Showing posts with label Văn Hóa Hàn Quốc. Show all posts
Showing posts with label Văn Hóa Hàn Quốc. Show all posts

August 12, 2026

세계가 찾는 한국민속···'한국민속대백과사전' 이용자 30% 해외서 접속 - Văn hóa dân gian Hàn Quốc thu hút thế giới - 30% người dùng truy cập từ nước ngoài

세계가 찾는 한국민속···'한국민속대백과사전' 이용자 30% 해외서 접속 - Văn hóa dân gian Hàn Quốc thu hút thế giới - 30% người dùng truy cập từ nước ngoài

 ▲ 6일 국립민속박물관에 따르면 올해 1~6월 박물관이 운영하는 한국민속대백과사전 누리집 이용자는 약 169만명으로 집계됐다. Ngày 6/8, theo Bảo tàng Dân gian Quốc gia Hàn Quốc, trang web Bách khoa toàn thư Văn hóa Dân gian Hàn Quốc ghi nhận khoảng 1,69 triệu người dùng trong nửa đầu năm nay. Ảnh chụp màn hình trang web Bách khoa toàn thư Văn hóa Dân gian Hàn Quốc - 한국민속대백과사전 누리집 갈무리

한국의 민속 분야 정보를 모은 온라인 '한국민속대백과사전' 이용자가 올 상반기 170만 명에 육박했다. Gần 1,7 triệu người đã sử dụng Bách khoa toàn thư Văn hóa Dân gian Hàn Quốc trực tuyến trong nửa đầu năm nay.

특히 전체 이용자 10명 중 3명 이상이 해외 유입으로 나타나 K-컬처를 향한 세계인의 높은 관심을 입증했다. Đặc biệt, hơn 30% người dùng truy cập từ nước ngoài, cho thấy sự quan tâm lớn của cộng đồng quốc tế đối với K-culture.

6일 국립민속박물관에 따르면 올해 1~6월 한국민속대백과사전 누리집(folkency.nfm.go.kr) 이용자는 약 169만명으로 집계됐다. 박물관측은 해외 유입 증가 등 최근의 가파른 상승세를 고려하면 올해 이용자는 350여만 명에 이를 것으로 내다봤다.

Theo Bảo tàng Dân gian Quốc gia Hàn Quốc ngày 6/8, trang web Bách khoa toàn thư Văn hóa Dân gian Hàn Quốc (folkency.nfm.go.kr) ghi nhận khoảng 1,69 triệu người dùng trong 6 tháng đầu năm nay. Với lượng truy cập từ nước ngoài tăng mạnh gần đây, bảo tàng dự báo con số này có thể đạt khoảng 3,5 triệu người trong cả năm.

국립민속박물관은 지난 2004년부터 세시풍속, 민속놀이 등 한국 민속문화를 이해하는 데 중요한 지식과 정보를 주제별 사전으로 편찬해 왔다. 그 결과물인 '한국세시풍속사전', '한국민속신앙사전' 등 총 8가지 백과사전을 한국민속대백과사전으로 통칭하며 온라인으로 공개하고 있다. 현재 32개 주제의 사전을 기반으로 표제어 1만 2000여 건을 다루고 있으며 한국어, 영어, 중국어, 스페인어로 이용할 수 있다.

Từ năm 2004, Bảo tàng Dân gian Quốc gia Hàn Quốc bắt đầu biên soạn các bộ từ điển theo chủ đề, cung cấp kiến thức về văn hóa dân gian Hàn Quốc như phong tục theo mùa và trò chơi dân gian. Tám bộ bách khoa, trong đó có Bách khoa Phong tục Hàn Quốc và Bách khoa Tín ngưỡng Dân gian Hàn Quốc, được gọi chung là Bách khoa toàn thư Văn hóa Dân gian Hàn Quốc và được cung cấp trực tuyến. Hiện bách khoa toàn thư có khoảng 12.000 mục từ thuộc 32 chủ đề, hỗ trợ 4 ngôn ngữ gồm tiếng Hàn, tiếng Anh, tiếng Trung và tiếng Tây Ban Nha.

박물관 관계자는 "지난해 이용자 가운데 30% 이상이 해외에서 유입된 것으로 나타났다" 며 "미국을 비롯해 아시아, 유럽, 남미 등에서 꾸준히 이용하고 있다"고 말했다.

Đại diện bảo tàng cho biết: “Hơn 30% người dùng trong năm ngoái truy cập từ nước ngoài. Bách khoa toàn thư được sử dụng thường xuyên tại Mỹ cũng như nhiều quốc gia ở châu Á, châu Âu và Nam Mỹ”.

서애영 기자 xuaiy@korea.kr
Bài viết từ Xu Aiying, xuaiy@korea.kr

July 31, 2026

서울 청와대 사랑채 '팔색찬란' 전시, 한국 전통문화 체험 - Triển lãm "Sắc màu Hàn Quốc" tại Nhà Xanh: Trải nghiệm văn hóa truyền thống Hàn Quốc

서울 청와대 사랑채 '팔색찬란' 전시, 한국 전통문화 체험 - Triển lãm "Sắc màu Hàn Quốc" tại Nhà Xanh: Trải nghiệm văn hóa truyền thống Hàn Quốc

 ▲ 서울 청와대 사랑채에 펼쳐진 모란 미디어아트. 전통 예술에 모란영화는 부귀영화를 상징한다. Tác phẩm media art hoa mẫu đơn được trình chiếu tại Sarangchae Nhà Xanh ở Seoul. Trong nghệ thuật truyền thống Hàn Quốc, hoa mẫu đơn tượng trưng cho phú quý và vinh hoa. (Ảnh: Park Daejin / Korea.net)

전통문화와 지역의 매력을 디지털 콘텐츠로 풀어낸 전시가 관람객에게 새로운 체험을 선사하고 있다.

Một triển lãm giới thiệu vẻ đẹp của văn hóa truyền thống và sức hấp dẫn của các địa phương Hàn Quốc bằng hình thức nội dung số đang mang đến cho khách tham quan những trải nghiệm mới mẻ.

문화체육관광부가 서울 종로구 청와대 사랑채에서 개최한 전시 '팔색찬란 - K로 가득한 지역'은 그래픽, 미디어아트, 체험형 콘텐츠로 한국의 전통문화를 새롭게 조명한다. 코리아넷은 지난달 26일 현장을 찾아 전시를 둘러봤다.

Triển lãm "Sắc màu Hàn Quốc từ các vùng miền" do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức tại Sarangchae Nhà Xanh ở quận Jongno, Seoul, tái hiện vẻ đẹp văn hóa truyền thống Hàn Quốc qua đồ họa, media art và các nội dung trải nghiệm tương tác.

▲ 전통 단청을 현대적으로 재해석한 구본창의 '코리아 판타지'. Tác phẩm Korea Fantasy của Koo Bohnchang tái hiện nghệ thuật trang trí truyền thống Dancheong dưới góc nhìn đương đại. (Ảnh: Park Daejin / Korea.net)
▲ 전통 단청을 현대적으로 재해석한 구본창의 '코리아 판타지'. Tác phẩm Korea Fantasy của Koo Bohnchang tái hiện nghệ thuật trang trí truyền thống Dancheong dưới góc nhìn đương đại. (Ảnh: Park Daejin / Korea.net)

구본창 작가의 '코리아 판타지'가 눈길을 사로잡는다. 한국 전통 건축 요소인 단청을 현대적으로 재해석한 작품이다. 단청은 목조 건축물에 여러 색으로 무늬와 그림을 그려 넣은 전통 채색 기법이다. 궁궐, 사찰, 관아(정부 사무소) 등 국가나 종교와 관련된 중요한 건축물에 사용되었다.

Tác phẩm Korea Fantasy của nghệ sĩ Koo Bohnchang khá thu hút sự chú ý của khách tham quan. Đây là tác phẩm tái hiện nghệ thuật Dancheong – họa tiết trang trí truyền thống trên kiến trúc Hàn Quốc – theo phong cách đương đại. Dancheong là kỹ thuật vẽ hoa văn và tranh bằng nhiều màu sắc trên các công trình kiến trúc gỗ, thường được sử dụng tại những công trình quan trọng gắn với quốc gia hoặc tôn giáo như cung điện, chùa chiền và các cơ quan hành chính thời xưa.

전시된 작품은 유리조각이 대칭을 이루는 만화경처럼 화면 가득히 펼쳐지는 기하학적 무늬는 단청 특유의 화려한 색채와 영롱한 질서를 보여준다. 끊임없이 확장되고 반복되는 이미지는 전통 문양이 살아 움직이는 둣한 역동적인 느낌을 자아낸다.

Tác phẩm trưng bày gây ấn tượng với những họa tiết hình học phủ kín màn hình, đối xứng như các mảnh kính trong kính vạn hoa, làm nổi bật bảng màu rực rỡ và trật tự hài hòa đặc trưng của nghệ thuật Dancheong. Những hình ảnh liên tục mở rộng và lặp lại tạo cảm giác như các hoa văn truyền thống đang chuyển động, mang đến một không gian sống động và đầy sức sống.

▲ 서울 종로구 청와대 사랑채에 방문객이 갓을 쓰고 사진을 찍을 수 있는 포토존이 마련돼 있다. Tại Sarangchae Nhà Xanh ở quận Jongno, Seoul, có khu vực chụp ảnh nơi khách tham quan có thể đội gat – chiếc mũ truyền thống của Hàn Quốc. (Ảnh: Park Daejin / Nhà Xanh)
▲ 서울 종로구 청와대 사랑채에 방문객이 갓을 쓰고 사진을 찍을 수 있는 포토존이 마련돼 있다. Tại Sarangchae Nhà Xanh ở quận Jongno, Seoul, có khu vực chụp ảnh nơi khách tham quan có thể đội gat – chiếc mũ truyền thống của Hàn Quốc. (Ảnh: Park Daejin / Nhà Xanh)

한편에서는 조선 양반의 기품을 상징하는 '갓'을 쓰고 사진을 쓸 수 있는 포토존이 마련됐다. 갓은 남성이 쓰던 전통 모자로 신분을 나타낸다.

Ở một góc khác của triển lãm, khách tham quan có thể chụp ảnh tại khu vực trải nghiệm với chiếc gat – loại mũ truyền thống tượng trưng cho phong thái của tầng lớp quý tộc (yangban) thời Joseon. Gat là mũ truyền thống dành cho nam giới, từng được sử dụng để thể hiện địa vị trong xã hội.

이 모자는 여성과 아이, 노비의 착용이 금지되었다. 대나무로 대우 (정수리 위로 높이 올라가는 원통형)과 양태 (동그란 챙 부분)를 따로 만들어 조립했다. 초기에는 대우와 양태를 대나무로 만들었지만 시간이 흘러 대우는 말총(말의 갈기나 꼬리털)로 만들기 시작했다. 조선시대의 문은 낮아 방을 드나드는 과정에서 대나무로 만든 대우가 쉽게 손상되었기 때문이다. 말총은 대나무보다 가볍고 탄성이 뛰어나 내구성을 높이는 데에도 적합했다. 1895년 단발령(상투 풍속을 없애고 머리를 짧게 깎도록 한 명령)이 시행되면서 갓은 점차 쇠퇴하기 시작했다.

Trong thời Joseon, phụ nữ, trẻ em và nô tỳ không được phép đội gat. Chiếc mũ này được ghép từ hai phần riêng biệt: daeu (phần chóp hình trụ nhô cao trên đỉnh đầu) và yangtae (vành mũ tròn). Ban đầu, cả hai bộ phận đều được làm bằng tre. Tuy nhiên, về sau phần daeu được thay bằng lông đuôi hoặc bờm ngựa. Nguyên nhân là cửa nhà thời Joseon khá thấp, khiến phần chóp bằng tre dễ bị va đập và hư hỏng khi ra vào. Lông ngựa nhẹ hơn, có độ đàn hồi cao nên giúp chiếc mũ bền và chắc hơn. Đến năm 1895, khi triều đình ban hành lệnh cắt bỏ búi tóc truyền thống (danbalryeong), gat cũng dần mất đi vị thế và không còn được sử dụng phổ biến.

갓은 지난해 넷플릭스 애니메이션 ‘케이팝 데몬 헌터스’와 드라마 ‘킹덤’(2021) 등 한국 콘텐츠에 등장하면서 해외에서 큰 주목을 받았다. Những năm gần đây, gat thu hút sự chú ý của khán giả quốc tế sau khi xuất hiện trong nhiều tác phẩm Hàn Quốc như bộ phim hoạt hình Netflix KPop Demon Hunters và loạt phim truyền hình Kingdom (2021).

▲ 전통 나전칠기를 구현한 미디어아트. Tác phẩm media art giới thiệu nghệ thuật khảm xà cừ truyền thống (Najeonchilgi) của Hàn Quốc. (Ảnh: Park Daejin / Korea.net)
▲ 전통 나전칠기를 구현한 미디어아트. Tác phẩm media art giới thiệu nghệ thuật khảm xà cừ truyền thống (Najeonchilgi) của Hàn Quốc. (Ảnh: Park Daejin / Korea.net)[

미디어아트실에서는 전통 문화를 주제로 한 다섯 편의 영상이 상영된다. 단연 돋보이는 것은 '나전칠기'를 모티브로한 작품이다. 나전칠기는 전복이나 진주조개 등의 자개를 옻칠한 표면에 박아 넣어 장식하는 전통 공예 기법이다.

Phòng media art trình chiếu năm tác phẩm lấy cảm hứng từ văn hóa truyền thống Hàn Quốc. Nổi bật nhất là tác phẩm về Najeonchilgi – nghệ thuật sơn mài khảm xà cừ truyền thống. Đây là kỹ thuật thủ công sử dụng những mảnh xà cừ từ vỏ bào ngư hoặc ngọc trai để khảm lên bề mặt đồ vật đã được phủ nhiều lớp sơn mài, tạo nên những hoa văn tinh xảo và óng ánh.

먼저 나무로 된 상자나 가구 등에 옻나무 수액으로 만든 천연 도료를 여러 차례 옻칠하여 검은색의 윤기 나는 바탕을 만든다. 그 위에 조개껍데기를 꽃, 학, 용 등의 무늬로 섬세하게 잘라 붙인 뒤, 다시 여러 차례 옻칠하여 완성한다.

Để tạo nên một sản phẩm Najeonchilgi, trước tiên người thợ phủ nhiều lớp sơn mài tự nhiên chiết xuất từ nhựa cây sơn lên hộp hoặc đồ nội thất bằng gỗ để tạo bề mặt đen bóng. Sau đó, những mảnh xà cừ từ vỏ bào ngư hoặc ngọc trai được cắt tỉ mỉ thành các họa tiết như hoa, hạc hay rồng rồi khảm lên bề mặt. Cuối cùng, sản phẩm tiếp tục được phủ thêm nhiều lớp sơn mài để hoàn thiện.

청와대 사랑채에서는 칠흑같은 옻칠 바탕 위에 영롱하게 반짝이는 자개의 빛깔이 미디어아트로 재현된다. 빛의 각도에 따라 다양한 색으로 출렁이는 자개 문양 사이로 호랑이·사슴·학 등이 움직이고 뛰어올라 생동감과 활기를 더한다.

Tại Sarangchae Nhà Xanh, vẻ đẹp của nghệ thuật Najeonchilgi được tái hiện bằng media art với nền sơn mài đen tuyền và ánh xà cừ lấp lánh. Giữa những hoa văn xà cừ chuyển sắc theo từng góc nhìn, hình ảnh hổ, hươu và hạc hiện lên sống động, chuyển động uyển chuyển, tạo nên một không gian vừa huyền ảo vừa tràn đầy sức sống.

이 밖에도 전국 각 지역의 무형유산과 명소를 담은 영상이 연이어 펼쳐진다. Ngoài ra, khách tham quan còn được thưởng thức chuỗi video giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể và những thắng cảnh đặc sắc của các địa phương trên khắp Hàn Quốc.

전시는 오는 12월 31일까지. 화요일을 제외한 매일 오전 9시부터 오후 6시까지 운영한다. 누구나 예약 없이 무료로 관람할 수 있다.

Triển lãm diễn ra đến hết ngày 31/12. Không gian mở cửa hằng ngày từ 9h đến 18h, trừ thứ Ba. Khách tham quan được vào cửa miễn phí và không cần đặt chỗ trước.

서울 = 이지혜 기자 jihlee08@korea.kr
사진 = 박대진 기자 pacdaejin@korea.kr
Bài viết từ Lee Jihae, jihlee08@korea.kr

June 11, 2026

[한국 결혼 문화] ① 가문의 결합···유물로 읽는 한국의 혼인 - Hôn nhân - sự gắn kết giữa hai gia tộc

[한국 결혼 문화] ① 가문의 결합···유물로 읽는 한국의 혼인 - Hôn nhân - sự gắn kết giữa hai gia tộc

결혼을 바라보는 사회적 인식이 바뀌면서 혼인 건수가 회복세다. 지난해 혼인 건수는 약 24만 건으로 7년 만에 최고치를 기록했다. 결혼 문화와 제도 역시 전통에서 현대까지 다양한 형태로 변모하는 추세다. 코리아넷은 연속 기획 '한국 결혼, 어디까지 아세요?'로 한국 결혼 문화의 흐름을 살펴본다.

Cùng với sự thay đổi trong nhận thức xã hội về hôn nhân, số lượng các cuộc kết hôn tại Hàn Quốc đang có chiều hướng phục hồi. Năm 2025, số vụ kết hôn đạt khoảng 240.000 vụ, cao nhất trong 7 năm qua. Văn hóa và thể chế hôn nhân cũng chuyển mình theo thời gian, từ những giá trị truyền thống đến các hình thức hiện đại đa dạng. Thông qua loạt bài giới thiệu “Văn hóa kết hôn của Hàn Quốc”, Korea.net sẽ giới thiệu những nét đặc trưng và sự biến đổi của văn hóa hôn nhân Hàn Quốc.

▲ 울산박물관 기획전시 '울산 결혼백서'를 찾은 관람객들이 지난 5월 23일 옛 혼례 기록물을 살펴보고 있다. Ngày 23/5, khách tham quan tìm hiểu các tư liệu về hôn lễ xưa tại triển lãm chuyên đề “Bách khoa toàn thư về hôn nhân” ở Bảo tàng Ulsan. (Ảnh: Hong Angie)
▲ 울산박물관 기획전시 '울산 결혼백서'를 찾은 관람객들이 지난 5월 23일 옛 혼례 기록물을 살펴보고 있다. Ngày 23/5, khách tham quan tìm hiểu các tư liệu về hôn lễ xưa tại triển lãm chuyên đề “Bách khoa toàn thư về hôn nhân” ở Bảo tàng Ulsan. (Ảnh: Hong Angie)

결혼은 인연을 맺는 일이다. 그 '연결고리'의 성격은 시대와 문화에 따라 다른 양상을 띤다. 신랑과 신부라 두 개인의 사랑을 축하하는 이벤트에 집중하는 서구권과 달리, 한국의 전통 혼례는 가문과 가문, 나아가 마을 공동체 전체가 함께 참여하는 거대한 사회적 의례이자 축제였다.

Kết hôn là tạo dựng nên một mối nhân duyên. Tuy nhiên, tính chất của mối liên kết ấy lại khác nhau tùy theo thời đại và nền văn hóa. Khác với các nước phương Tây, nơi đám cưới chủ yếu tập trung vào việc chúc mừng tình yêu của cô dâu và chú rể, hôn lễ truyền thống của Hàn Quốc là một nghi lễ xã hội quy mô lớn và cũng là một lễ hội cộng đồng, với sự tham gia không chỉ của hai gia đình mà còn của cả toàn thể dân làng.

오는 7월 26일까지 울산박물관에서 열리는 기획전시 '울산 결혼백서'는 시대의 흐름 속에서 변해 온 한국 결혼 문화의 본질을 조명한다. 특히 1부 '예로 허락된 인연'은 유교적 질서에 따른 엄격한 절차와 예법으로 인연이 맺어지는 과정을 생생하게 재현했다.

Triển lãm chuyên đề “Bách khoa toàn thư về hôn nhân” diễn ra tại Bảo tàng Ulsan đến ngày 26/7, giới thiệu bản chất của văn hóa hôn nhân Hàn Quốc qua những biến đổi theo dòng chảy thời gian. Đặc biệt, phần 1 với chủ đề “Mối lương duyên được tác thành theo lễ nghi” tái hiện sinh động quá trình nên duyên theo các thủ tục và quy tắc nghi lễ nghiêm ngặt của trật tự Nho giáo.

복식에 새긴 가문의 자부심 - Niềm tự hào của gia tộc được gửi gắm qua trang phục

▲ 울산박물관 ‘울산 결혼백서’에 전시된 '족두리'와 '비녀'의 모습. Hình ảnh chiếc jokduri (mũ đội đầu của cô dâu) và binyeo (trâm cài tóc truyền thống) được trưng bày tại triển lãm “Bách khoa toàn thư về hôn nhân” ở Bảo tàng Ulsan. (Ảnh: Hong Angie)
▲ 울산박물관 ‘울산 결혼백서’에 전시된 '족두리'와 '비녀'의 모습. Hình ảnh chiếc jokduri (mũ đội đầu của cô dâu) và binyeo (trâm cài tóc truyền thống) được trưng bày tại triển lãm “Bách khoa toàn thư về hôn nhân” ở Bảo tàng Ulsan. (Ảnh: Hong Angie)

전시장에 들어서면 화려한 전통 혼례복과 장신구가 가장 먼저 눈길을 사로잡는다. 옛 혼례 행렬에서 펄럭이던 깃발을 연상시키며, 새로운 삶을 향한 기대감을 높인다. 보라색과 녹색이 어우러진 원삼은 정교한 자수와 무늬로 과거 신부의 아름다움과 가문의 품격을 대변한다. 그 자체로 훌륭한 예술품처럼 빛을 발한다.

Bước vào không gian triển lãm, điều đầu tiên thu hút ánh nhìn là những bộ lễ phục cưới truyền thống và trang sức rực rỡ sắc màu. Chúng gợi nhớ những lá cờ từng tung bay trong đoàn rước dâu ngày xưa, đồng thời khơi dậy cảm giác háo hức trước một cuộc sống mới. Bộ wonsam với sự kết hợp hài hòa giữa sắc tím và xanh lục, cùng những đường thêu và hoa văn tinh xảo, thể hiện vẻ đẹp của cô dâu cũng như phẩm giá của gia tộc trong quá khứ. Bản thân bộ trang phục ấy tỏa sáng như một tác phẩm nghệ thuật hoàn mỹ.

우리의 옛 신부들은 강렬한 오방색 장식이 달린 무거운 '족두리'를 쓰고 '비녀'를 꽂았다. 나쁜 기운을 막고 복을 기원하는 의미다. 양가 결합이라는 묵직한 사회적 책임감을 짊어지고 경건하게 식에 임하라는 문화적 장치이기도 하다. 얇고 투명한 '순백의 베일'로 신부의 순수함과 아름다움을 강조하는 서양식 웨딩드레스와는 다른, 치장을 넘어 예를 담아낸 한국 전통 혼례복만의 독창적인 미학이다.

Cô dâu Hàn Quốc ngày xưa đội một chiếc jokduri khá nặng được trang trí bằng những màu sắc rực rỡ của ngũ phương sắc (obangsaek) và cài binyeo trên tóc. Những vật phẩm này mang ý nghĩa xua đuổi điều không may và cầu chúc phúc lành. Đồng thời, chúng cũng là biểu tượng văn hóa nhắc nhở cô dâu bước vào hôn lễ với sự trang nghiêm, ý thức về trách nhiệm xã hội nặng nề gắn liền với sự kết hợp của hai gia đình. Khác với váy cưới phương Tây sử dụng tấm khăn voan trắng mỏng để tôn lên vẻ đẹp và sự thuần khiết của cô dâu, lễ phục cưới truyền thống Hàn Quốc thể hiện một quan điểm mỹ học riêng, vượt lên trên ý nghĩa làm đẹp đơn thuần để gửi gắm lễ nghi và các giá trị văn hóa.

변치 않는 약속의 매개체, 나무 기러기 - Ngỗng gỗ – biểu tượng của lời hứa thủy chung

 ▲ 청홍 보자기에 싸인 한 쌍의 나무 기러기. Một cặp ngỗng gỗ được bọc trong khăn bojagi (khăn gói truyền thống) màu xanh và đỏ. (Ảnh: Hong Angie)

서양의 '결혼 반지'가 당사자 간의 영원한 사랑을 뜻한다면, 한국의 '나무 기러기'는 부부의 흔들림 없는 신의를 상징한다. 신부 어머니에게 기러기를 바치고 정성스레 예물을 준비하는 전통은 결혼을 단순한 남녀의 결합을 넘어 가문 간의 굳건한 신뢰와 예우로 여긴 한국 고유의 가치관을 뚜렷하게 보여준다.

Nếu nhẫn cưới ở phương Tây tượng trưng cho tình yêu vĩnh cửu giữa hai người, thì ngỗng gỗ trong văn hóa Hàn Quốc biểu trưng cho sự thủy chung không xao động của vợ chồng. Truyền thống dâng ngỗng gỗ cho mẹ cô dâu và chuẩn bị sính lễ một cách chu đáo cho thấy quan niệm đặc trưng của người Hàn, xem hôn nhân không chỉ là sự kết hợp giữa nam và nữ mà còn là mối quan hệ được xây dựng trên sự tin cậy và lễ nghĩa giữa hai gia đình.

'신혼방', 새 출발 향한 염원 - “Phòng tân hôn” – lời chúc phúc cho một khởi đầu mới

▲ 전시 '울산 결혼백서'에 재현된 '신혼방'. Mô hình “phòng tân hôn” được tái hiện tại triển lãm “Bách khoa toàn thư về hôn nhân”. (Ảnh: Hong Angie)
▲ 전시 '울산 결혼백서'에 재현된 '신혼방'. Mô hình “phòng tân hôn” được tái hiện tại triển lãm “Bách khoa toàn thư về hôn nhân”. (Ảnh: Hong Angie)

'신혼방' 공간 역시 한국적 결혼 문화를 잘 드러낸다. 반닫이와 혼수함, 색동 이불, 원앙 장식 등은 단순한 생활용품이 아니다. 새 가정의 안정과 화목을 바라는 염원이다. 신혼여행이나 선물 목록으로 미래의 삶을 준비하는 서구식 실용 문화와 비교해, 한국은 혼수와 신혼방 자체에 새로운 출발을 향한 길상의 바람을 가득 채웠다.

Không gian “phòng tân hôn” cũng phản ánh rõ nét văn hóa hôn nhân của người Hàn Quốc. Những vật dụng như tủ bandaji, hòm đựng đồ cưới, chăn ghép vải nhiều màu (saekdong) hay đồ trang trí hình chim uyên ương không đơn thuần là đồ dùng sinh hoạt. Chúng gửi gắm mong ước về một gia đình mới ổn định, hòa thuận và hạnh phúc. Nếu ở phương Tây, các cặp đôi thường chuẩn bị cho cuộc sống tương lai bằng tuần trăng mật hoặc danh sách quà tặng cưới mang tính thực tế, thì trong văn hóa Hàn Quốc, những vật dụng chuẩn bị cho cuộc sống hôn nhân và chính không gian phòng tân hôn lại chứa đựng những lời chúc cát tường và kỳ vọng tốt đẹp cho một khởi đầu mới.

울산, 글·사진 = 홍안지 기자 shong9412@korea.kr
Bài viết từ Hong Angie, shong9412@korea.kr

June 2, 2026

[이재명 정부 365일] ④ 5대 문화강국 도약···'K-컬처 300조 원 시대' 기초체력 키웠다 - Mục tiêu top 5 cường quốc văn hóa - “kỷ nguyên K-Culture 300.000 tỷ won”

[이재명 정부 365일] ④ 5대 문화강국 도약···'K-컬처 300조 원 시대' 기초체력 키웠다 - Mục tiêu top 5 cường quốc văn hóa - “kỷ nguyên K-Culture 300.000 tỷ won”

이재명 정부가 출범 1년을 맞았다. 2025년 6월 4일 돛을 올린 이후 '국민이 주인인 나라, 함께 행복한 대한민국'을 국정 비전 삼아 각 분야에서 변화의 틀을 다져왔다. 코리아넷이 출범 1주년을 맞아 정부의 주요 성과를 5회에 걸쳐 톺아본다. 네번째 순서로 문화강국 도약을 위한 그간 성과를 돌아본다.

Đã tròn 1 năm kể từ ngày thành lập Chính phủ Lee Jae Myung. Kể từ khi chính thức khởi động vào ngày 4/6/2025, chính phủ đã từng bước xây dựng nền tảng thay đổi trên nhiều lĩnh vực với tầm nhìn quốc gia “Một đất nước nơi người dân làm chủ, một Hàn Quốc hạnh phúc cho tất cả mọi người”. Nhân dịp kỷ niệm 1 năm thành lập, Korea.net sẽ điểm lại những thành quả nổi bật của chính phủ qua loạt bài gồm 5 phần. Bài viết thứ tư nhìn lại những thành tựu đã đạt được trên chặng đường vươn lên trở thành cường quốc văn hóa.

이재명 정부가 출범 1주년을 맞아 핵심 국정 전략인 ‘함께 누리는 창의적 문화국가’ 구현을 본격화하고 있다. 정부는 문화·예술·체육·관광 산업 전반을 국가 핵심 성장동력으로 육성하며 ‘5대 문화강국’과 ‘K-컬처 300조 원 시대’를 비전으로 제시했다. 지난 1년은 창작 자율성을 보장하고 콘텐츠 산업의 글로벌 경쟁력을 키울 제도적 기반을 다지는 데 집중한 시기였다.

Chính phủ Lee Jae Myung đang đẩy mạnh hiện thực hóa chiến lược quốc gia trọng tâm mang tên “quốc gia văn hóa sáng tạo dành cho mọi người” nhân dịp tròn một năm kể từ khi nhậm chức. Chính phủ đặt mục tiêu phát triển toàn diện các ngành văn hóa, nghệ thuật, thể thao và du lịch thành động lực tăng trưởng chủ chốt của đất nước, với viễn cảnh đưa Hàn Quốc trở thành một trong 5 cường quốc văn hóa hàng đầu thế giới và mở ra “kỷ nguyên K-Culture trị giá 300.000 tỷ won”. Trong năm đầu tiên, trọng tâm được đặt vào việc xây dựng nền tảng thể chế nhằm bảo đảm quyền tự do sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu của ngành công nghiệp sáng tạo nội dung.

순방 문화외교도 K-컬처 중심의 국가 전략으로 확대했다. 해외 순방과 정상외교 때 K-콘텐츠 공동 제작, 문화산업 투자 협력, 관광 교류 활성화, 한국어 교육 협력 등을 주요 의제로 다루며 문화 외교를 경제 협력과 연결하는 구조로 강화했다.

Ngoại giao văn hóa trong các chuyến công du nước ngoài cũng được mở rộng thành một chiến lược quốc gia lấy K-Culture làm trọng tâm. Trong các chuyến thăm cấp nhà nước và hoạt động ngoại giao thượng đỉnh, chính phủ đưa các nội dung như đồng sản xuất nội dung K-content, hợp tác đầu tư vào ngành công nghiệp văn hóa, thúc đẩy giao lưu du lịch và hợp tác giáo dục tiếng Hàn vào chương trình nghị sự chính, qua đó tăng cường gắn kết ngoại giao văn hóa với hợp tác kinh tế.

▲ 이재명 대통령이 지난해 6월 30일 서울 용산 대통령실 파인그라스에서 열린 문화예술계 수상자 간담회에서 예술인들의 발언을 들으며 환하게 웃고 있다. Tổng thống Lee Jae Myung tươi cười lắng nghe các nghệ sĩ phát biểu tại buổi gặp gỡ những người đoạt giải trong lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật, diễn ra ngày 30/6 năm ngoái tại phòng Pine Grass thuộc Văn phòng Tổng thống ở Yongsan, Seoul. (Ảnh: Nhà Xanh)
▲ 이재명 대통령이 지난해 6월 30일 서울 용산 대통령실 파인그라스에서 열린 문화예술계 수상자 간담회에서 예술인들의 발언을 들으며 환하게 웃고 있다. Tổng thống Lee Jae Myung tươi cười lắng nghe các nghệ sĩ phát biểu tại buổi gặp gỡ những người đoạt giải trong lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật, diễn ra ngày 30/6 năm ngoái tại phòng Pine Grass thuộc Văn phòng Tổng thống ở Yongsan, Seoul. (Ảnh: Nhà Xanh)

K-콘텐츠, 국가전략산업으로···세제지원·인공지능(AI) 투자 확대 - Đưa K-Content vào chiến lược quốc gia, tăng ưu đãi thuế và đầu tư AI

정부는 웹툰·게임·영화·뮤지컬·K-팝 등 콘텐츠 산업 전반의 경쟁력을 높이기 위해 세제지원과 정책금융을 대폭 늘렸다. Chính phủ đã mở rộng đáng kể các ưu đãi thuế và hỗ trợ tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ ngành công nghiệp sáng tạo nội dung, bao gồm webtoon, trò chơi điện tử, điện ảnh, nhạc kịch và K-pop.

콘텐츠 제작비 세액공제를 확대하고 총 7318억 원 규모의 콘텐츠 정책펀드를 조성했다. 인공지능(AI) 기반 콘텐츠 육성을 위한 연구개발(R&D) 예산을 전년 대비 42% 늘렸다. 총 1515억 원으로 역대 최대 규모다.

Chế độ khấu trừ thuế đối với chi phí sản xuất nội dung được mở rộng, quỹ chính sách cho ngành sáng tạo nội dung được lập ra với quy mô 731,8 tỷ won. Ngân sách nghiên cứu và phát triển (R&D) dành cho nội dung ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cũng được tăng 42% so với năm trước, lên 151,5 tỷ won - mức cao nhất từ trước đến nay.

저작권 침해와 불법 스트리밍 근절 대책도 강화했다. 아울러 대통령직속 대중문화교류위원회를 출범해 콘텐츠 산업을 국가 전략산업으로 체계화했다. 이에 힘입어 지난해 K-콘텐츠 수출액은 149억 달러로 역대 최고치를 기록했다.

Chính phủ cũng tăng cường các biện pháp chống xâm phạm bản quyền và phát trực tuyến trái phép. Đồng thời, Ủy ban Giao lưu Văn hóa Đại chúng trực thuộc Tổng thống đã được thành lập nhằm xây dựng ngành công nghiệp sáng tạo nội dung thành một ngành chiến lược quốc gia một cách có hệ thống. Nhờ đó, kim ngạch xuất khẩu K-content năm ngoái đạt 14,9 tỷ USD, mức cao kỷ lục tính đến nay.

▲ 지난해 10월 1일 경기 고양시 킨텍스에서 열린 대중문화교류위원회 출범식에서 이재명 대통령(왼쪽부터 다섯 번째)이 박진영 대중문화교류위원회 공동위원장, 스트레이 키즈, 르세라핌과 기념촬영을 하고 있다. Tổng thống Lee Jae Myung (thứ năm từ trái sang) chụp ảnh lưu niệm cùng đồng Chủ tịch Ủy ban Giao lưu Văn hóa Đại chúng Park Jin Young, nhóm nhạc Stray Kids và LE SSERAFIM tại lễ ra mắt Ủy ban Giao lưu Văn hóa Đại chúng, diễn ra ngày 1/10 năm ngoái tại KINTEX ở thành phố Goyang, tỉnh Gyeonggi. (Ảnh: Nhà Xanh)
▲ 지난해 10월 1일 경기 고양시 킨텍스에서 열린 대중문화교류위원회 출범식에서 이재명 대통령(왼쪽부터 다섯 번째)이 박진영 대중문화교류위원회 공동위원장, 스트레이 키즈, 르세라핌과 기념촬영을 하고 있다. Tổng thống Lee Jae Myung (thứ năm từ trái sang) chụp ảnh lưu niệm cùng đồng Chủ tịch Ủy ban Giao lưu Văn hóa Đại chúng Park Jin Young, nhóm nhạc Stray Kids và LE SSERAFIM tại lễ ra mắt Ủy ban Giao lưu Văn hóa Đại chúng, diễn ra ngày 1/10 năm ngoái tại KINTEX ở thành phố Goyang, tỉnh Gyeonggi. (Ảnh: Nhà Xanh)

글로벌 문화외교 확장···외국인 관광객 역대 최대 - Mở rộng ngoại giao văn hóa toàn cầu - Khách du lịch quốc tế đến Hàn Quốc đạt mức cao kỷ lục

K-컬처를 국가 브랜드와 외교 자산으로 활용한 글로벌 문화외교도 탄력을 받았다. 특히 아시아태평양경제협력체(APEC) 최초로 문화산업고위급대화를 개최해 ‘문화창조산업’을 공식 의제로 채택했다. 이 회의에서 만장일치 공동성명을 이끌어내며 국제 문화협력 플랫폼의 발판을 마련했다.

Ngoại giao văn hóa toàn cầu sử dụng K-Culture như một tài sản ngoại giao và thương hiệu quốc gia cũng được đẩy mạnh. Đặc biệt, Hàn Quốc đã tổ chức Đối thoại Cấp cao về Công nghiệp Văn hóa đầu tiên trong lịch sử Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), qua đó đưa “công nghiệp văn hóa sáng tạo” trở thành một nghị sự chính thức. Hội nghị đã thông qua tuyên bố chung với sự đồng thuận của tất cả các thành viên, tạo nền tảng cho một cơ chế hợp tác văn hóa quốc tế trong tương lai.

관광 분야에서는 ‘관광객 3000만 시대’를 목표로 중국 단체 관광객 한시적 무비자 제도와 국제회의 참가자 입국 패스트트랙 완화 등을 추진했다. 그 결과 올해 1분기 방한 외국인 관광객은 476만 명을 돌파하며 역대 최고 기록을 갈아치웠다. 지방공항 입국 외국인도 49.7% 늘어 지역관광 활성화로 이어지고 있다.

Trong lĩnh vực du lịch, chính phủ thúc đẩy nhiều chính sách nhằm hiện thực hóa mục tiêu “30 triệu lượt khách du lịch quốc tế”, như áp dụng tạm thời chế độ miễn thị thực cho khách du lịch theo đoàn từ Trung Quốc và nới lỏng quy trình nhập cảnh nhanh (fast track) cho người tham dự các hội nghị quốc tế. Nhờ đó, số lượng du khách nước ngoài đến Hàn Quốc trong quý I năm nay đã vượt 4,76 triệu lượt, mức cao nhất từ trước đến nay. Số du khách nhập cảnh qua các sân bay địa phương cũng tăng 49,7%, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch địa phương.

 ▲ 이재명 대통령(오른쪽)과 김혜경 여사가 지난 2월 26일 서울 용산구 국립중앙박물관에서 열린 특별전 '우리들의 이순신'을 관람한 뒤 상품관에서 박물관 문화상품을 들고 기념촬영을 하고 있다. Tổng thống Lee Jae Myung (bên phải) và phu nhân Kim Hye Kyung chụp ảnh lưu niệm với các sản phẩm văn hóa của bảo tàng tại khu bán hàng lưu niệm sau khi tham quan triển lãm đặc biệt “Yi Sun-sin”, diễn ra ngày 26/2 tại Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc ở quận Yongsan, Seoul. (Ảnh: Nhà Xanh)

지역 문화향유 확대···창작 자율성과 문화복지 강화 - Nâng cao cơ hội hưởng thụ văn hóa tại địa phương - Mở rộng quyền tự do sáng tạo và phúc lợi văn hóa

통합문화이용권과 문화누리카드 등 취약계층 문화향유 지원을 늘리고 매주 수요일을 ‘문화가 있는 날’로 확대 운영했다. 국립중앙박물관은 연간 관람객 650만 명을 돌파해 관람객 수 기준 세계 3대 박물관에 올랐다. 인구감소지역을 대상으로 한 ‘지역사랑 휴가지원(반값여행)’ 제도를 신설했다. 이를 마중물 삼아 수도권 중심의 문화 구조를 완화하고 지역 문화 접근성을 대폭 높였다.

Chính phủ hỗ trợ tiếp cận văn hóa cho các nhóm yếu thế trong xã hội thông qua các chương trình như Phiếu sử dụng dịch vụ văn hóa tổng hợp và thẻ Culture Nuri, đồng thời mở rộng chương trình “Ngày Văn hóa” vào mỗi thứ Tư hằng tuần. Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc đã đón hơn 6,5 triệu lượt khách tham quan trong một năm, qua đó trở thành một trong ba bảo tàng có lượng khách tham quan nhiều nhất thế giới. Chính phủ cũng triển khai chương trình “Hỗ trợ du lịch vì địa phương” (du lịch nửa giá) dành cho các khu vực có dân số suy giảm. Thông qua các chính sách này, chính phủ từng bước giảm sự tập trung văn hóa vào vùng thủ đô và nâng cao đáng kể khả năng tiếp cận các hoạt động văn hóa tại địa phương.

정부는 지난 1년간 문화계의 ‘팔길이 원칙(Arm’s Length Principle)’을 강조하며 “지원하되 간섭하지 않는다”는 기조를 유지했다. 예술인복지금고 조성과 청년 창작자 지원사업 확대는 창작자의 자율성과 안정적인 창작 환경 조성에 힘을 실었다.

Trong một năm qua, chính phủ nhấn mạnh “nguyên tắc cánh tay dài” (Arm’s Length Principle) trong lĩnh vực văn hóa, duy trì quan điểm “hỗ trợ nhưng không can thiệp” vào hoạt động sáng tạo. Bên cạnh đó, việc thành lập Quỹ Phúc lợi Nghệ sĩ và mở rộng các chương trình hỗ trợ nhà sáng tạo trẻ đã góp phần tăng cường quyền tự chủ của giới sáng tác, tạo dựng môi trường sáng tạo ổn định hơn cho các nghệ sĩ và nhà sáng tạo nội dung.

서애영 기자 xuaiy@korea.kr
사진 = 대한민국 청와대
Bài viết từ Xu Aiying, xuaiy@korea.kr

May 6, 2026

[동물과 함께, 한국] 지자체 동물복지, 공존의 일상 바꿨다 - Chính sách phúc lợi cho động vật của chính quyền địa phương

[동물과 함께, 한국] 지자체 동물복지, 공존의 일상 바꿨다 - Chính sách phúc lợi cho động vật của chính quyền địa phương

한국 사회에서 동물을 바라보는 시선이 근본적으로 변하고 있다. 반려동물 양육 인구가 늘고 동물복지 인식이 성숙해지면서 정책과 생활 현장 곳곳에서 변화가 포착된다. ‘동물과 함께, 한국’은 동물의 법적 지위 논의, 생추어리 사례, 지방자치단체의 동물친화 정책을 징검다리 삼아 동물과 인간의 관계를 둘러싼 사회적 변화를 살펴본다.

Cách nhìn nhận về động vật trong xã hội Hàn Quốc đang thay đổi một cách căn bản. Khi ngày càng có nhiều người nuôi thú cưng và nhận thức về phúc lợi động vật được nâng cao, có nhiều biến chuyển được ghi nhận cả trong chính sách lẫn đời sống thường nhật. Loạt bài “Bảo vệ động vật tại Hàn Quốc” sẽ khám phá những thay đổi xã hội xoay quanh mối quan hệ giữa con người và động vật, dựa trên các cuộc thảo luận về vị thế pháp lý của động vật, các ví dụ về sanctuary (khu bảo tồn), và các chính sách thân thiện với động vật của chính quyền địa phương.

 ▲ 경기도 김포시 반려동물 공공진료센터 의료진이 한 반려견을 진료하고 있다. Y bác sĩ tại Trung tâm khám chữa bệnh công cộng dành cho thú cưng ở thành phố Gimpo, tỉnh Gyeonggi đang điều trị cho một chú chó. (Ảnh: Trung tâm khám chữa bệnh công cộng dành cho thú cưng thành phố Gimpo - 김포시 반려동물 공공진료센터)

지방자치단체(지자체)의 동물복지 정책이 사람과 반려동물의 일상을 새롭게 재편하고 있다. Các chính sách phúc lợi cho động vật của chính quyền địa phương đang tái định hình đời sống thường nhật của những người nuôi thú cưng.

농림축산식품부 제3차 동물복지종합계획에 따르면 2024년 기준 반려동물 양육가구 비율은 28.6%. 전국 100여 개 지자체도 이러한 변화에 발맞춰 반려동물 가족 지원을 주요 정책 과제로 내걸었다. 영역도 진료와 교육, 관광과 공간 조성까지 확장 중이다.

Theo Kế hoạch tổng thể về phúc lợi động vật lần thứ 3 của Bộ Nông nghiệp, Thực phẩm và Nông thôn Hàn Quốc, tính đến năm 2024, tỷ lệ hộ gia đình nuôi thú cưng đạt 28,6%. Khoảng hơn 100 chính quyền địa phương trên cả nước đã đưa chính sách hỗ trợ các gia đình nuôi thú cưng vào nhiệm vụ trọng tâm. Phạm vi hỗ trợ đang được mở rộng sang các lĩnh vực như khám chữa bệnh, giáo dục, du lịch và tạo dựng không gian.

김포시는 이 흐름의 중심에 있다. 지난 2024년 7월 전국 최초로 문을 연 반려동물 공공진료센터는 1년 6개월 만에 2551마리를 진료했다. 이용자 만족도는 92점. 센터에서 등록한 동물은 655건으로, 김포시 전체 내장칩 등록의 약 22%에 달한다. 김포시는 전국 지자체 최초로 복지국 가족문화과에 반려문화팀도 신설했다.

Thành phố Gimpo là tâm điểm của phong trào này. Trung tâm khám chữa bệnh công cộng dành cho thú cưng, mô hình đầu tiên trên toàn quốc, khai trương vào tháng 7/2024, đã khám cho 2.551 con vật chỉ sau 1 năm 6 tháng hoạt động. Mức độ hài lòng của người sử dụng đạt 92 điểm. Số vật nuôi được đăng ký tại trung tâm là 655 trường hợp, chiếm khoảng 22% tổng số thú nuôi đăng ký gắn chip trong thành phố. Gimpo cũng là địa phương đầu tiên trên cả nước thành lập đội phụ trách văn hóa nuôi thú cưng trực thuộc Phòng Văn hóa Gia đình của Sở Phúc lợi.

▲ 울산, 거제, 양양 등 전국 여러 해변이 반려견 친화로 운영되고 있다. 사진은 강릉 사근진 해변의 해수욕객과 반려견들. Nhiều bãi biển trên cả nước như Ulsan, Geoje và Yangyang đang vận hành theo hướng thân thiện với chó. Trong ảnh là du khách tắm biển cùng thú cưng tại bãi biển Sogeunjin ở Gangneung. (Ảnh: Yonhap News - 연합뉴스)
▲ 울산, 거제, 양양 등 전국 여러 해변이 반려견 친화로 운영되고 있다. 사진은 강릉 사근진 해변의 해수욕객과 반려견들. Nhiều bãi biển trên cả nước như Ulsan, Geoje và Yangyang đang vận hành theo hướng thân thiện với chó. Trong ảnh là du khách tắm biển cùng thú cưng tại bãi biển Sogeunjin ở Gangneung. (Ảnh: Yonhap News - 연합뉴스)

광역 단위에서는 충청남도가 두드러진다. 지난해 12월 동물과미래포럼이 발표한 동물복지지수(조례·전담 인력·예산 비율 등을 반영한 지표)에서 충남이 전국 1위를 차지했다. 동물복지 예산 비중이 전체 예산의 0.1%를 넘긴 광역지자체는 충남과 강원뿐이다. 충남도는 유기동물 입양과 실종 신고, 급식소 정보를 통합한 서비스를 운영하고 있다. 중성화 수술 지원과 반려동물 동반 공원 조성도 함께 추진 중이다.

Ở cấp tỉnh, nổi bật có tỉnh Chungcheongnam-do. Theo Chỉ số phúc lợi động vật do Diễn đàn Tương lai cùng Động vật và công bố vào tháng 12 năm ngoái (chỉ số phản ánh các yếu tố như quy định, nhân lực chuyên trách và tỷ lệ ngân sách), tỉnh này đứng đầu cả nước.
Chỉ có Chungcheongnam-do và Gangwon-do là hai địa phương cấp tỉnh có tỷ trọng ngân sách cho phúc lợi động vật vượt 0,1% tổng ngân sách. Chungcheongnam-do đang vận hành hệ thống tích hợp thông tin về nhận nuôi động vật bị bỏ rơi, khai báo mất tích và các điểm cung cấp thức ăn cho động vật. Đồng thời, địa phương cũng thúc đẩy hỗ trợ triệt sản và phát triển các công viên cho phép dẫn theo thú cưng vào.

특화 정책도 다체롭다. 거제시는 지난 2023년 명사해수욕장에 전국 최초의 지자체 조성 반려동물 전용 해수욕장 ‘댕수욕장’을 열었다. 포천시는 전용 놀이터와 산책로를 갖춘 반려동물 동반 캠핑장을 운영한다. 순천시는 전통시장과 마을버스, 교육 프로그램을 연계한 동물친화 마을을 조성했다. 한국철도공사와 협력해 반려견 전용 열차 ‘순천 댕댕 트레인’도 선보였다.

Các chính sách riêng của từng vùng cũng rất đa dạng. Thành phố Geoje đã mở “bãi tắm cho chó” - mô hình đầu tiên do chính quyền địa phương xây dựng, tại bãi biển Myeongsa vào năm 2023. Thành phố Pocheon vận hành khu cắm trại cho phép mang thú cưng vào, được trang bị sân chơi và lối đi dạo riêng. Thành phố Suncheon phát triển mô hình “làng thân thiện với động vật”, kết nối chợ truyền thống, xe buýt địa phương và các chương trình giáo dục. Đồng thời, địa phương này còn hợp tác với Tổng công ty Đường sắt Hàn Quốc để đưa vào vận hành tàu hỏa dành riêng cho thú cưng “Suncheon Dangdang Train.”

▲ 지난해 11월 6일 개소한 강원특별자치도 반려동물지원센터 내부 모습. Bên trong Trung tâm Hỗ trợ Thú cưng tỉnh Gangwon, khai trương ngày 6/11 năm ngoái. (Ảnh: Chính quyền tỉnh Gangwon - 강원특별자치도)
▲ 지난해 11월 6일 개소한 강원특별자치도 반려동물지원센터 내부 모습. Bên trong Trung tâm Hỗ trợ Thú cưng tỉnh Gangwon, khai trương ngày 6/11 năm ngoái. (Ảnh: Chính quyền tỉnh Gangwon - 강원특별자치도)

지자체는 시설 조성과 함께 보호자 교육에도 공을 들이고 있다. 서울시는 지난 2018년부터 ‘반려동물 시민학교’를 운영 중이다. 사회화와 산책, 행동 교정 등 단계별 교육 과정을 마련했다. 매년 시민 2000명이 이곳에서 올바른 반려 문화를 배운다. 서울 강북구는 2021년부터 전문 훈련사가 가정을 직접 방문해 1대1 맞춤 행동 교정을 지원하는 프로그램을 운영하고 있다.

Chính quyền địa phương không chỉ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng mà còn chú trọng giáo dục người nuôi thú cưng. Thành phố Seoul từ năm 2018 đã vận hành “Trường học công dân về thú cưng”, với các chương trình đào tạo theo từng cấp độ như xã hội hóa, dắt thú cưng đi dạo và điều chỉnh hành vi. Mỗi năm có khoảng 2.000 người dân tham gia chương trình này để học cách nuôi thú cưng đúng cách. Quận Gangbuk (Seoul) từ năm 2021 triển khai chương trình huấn luyện viên chuyên môn đến tận nhà, hỗ trợ điều chỉnh hành vi theo hình thức 1 kèm 1.

지자체의 움직임은 이제 동물과 사람의 일상으로 깊숙이 스며들었다. 속도와 깊이는 지역마다 다르지만, 그 방향은 뚜렷하다. 사람과 동물의 동행이 본격 시작됐다.

Những nỗ lực của chính quyền địa phương giờ đã thấm sâu vào đời sống hằng ngày của những người nuôi thú cưng. Dù có sự khác nhau giữa các địa phương về tốc độ và mức độ triển khai, nhưng nhìn chung xu hướng đã trở nên khá rõ ràng. Hành trình đồng hành giữa con người và động vật đã thực sự bắt đầu.

Từ vựng trong bài:

🐶 1. Động vật – thú cưng
동물 : động vật
반려동물 : thú cưng
반려견 : chó nuôi
유기동물 : động vật bị bỏ rơi
입양 : nhận nuôi
중성화 수술 : triệt sản

🧠 2. Nhận thức – xã hội
시선 : cách nhìn nhận
근본적으로 : một cách căn bản
인식 : nhận thức
성숙해지다 : trở nên trưởng thành (nhận thức cao hơn)
변화 : sự thay đổi
포착되다 : được ghi nhận

🏛️ 3. Chính sách – chính quyền
지방자치단체(지자체) : chính quyền địa phương
정책 : chính sách
동물복지 : phúc lợi động vật
과제 : nhiệm vụ
조성하다 : xây dựng / tạo lập
운영하다 : vận hành

📊 4. Số liệu – thống kê
비율 : tỷ lệ
기준 : 기준 / tiêu chuẩn
집계되다 : được thống kê
달하다 : đạt đến

🏥 5. Dịch vụ – chăm sóc
진료 : khám chữa bệnh
공공진료센터 : trung tâm khám chữa bệnh công
의료진 : đội ngũ y tế
만족도 : mức độ hài lòng

🏙️ 6. Địa phương – cơ sở hạ tầng
해변 : bãi biển
공원 : công viên
캠핑장 : khu cắm trại
놀이터 : sân chơi
산책로 : đường đi dạo

🧩 7. Chính sách đặc thù
특화 정책 : chính sách đặc thù
전용 : dành riêng
동반 : đi cùng
친화 : thân thiện

📈 8. Đánh giá – chỉ số
지수 : chỉ số
반영하다 : phản ánh
차지하다 : chiếm
두드러지다 : nổi bật

🎓 9. Giáo dục – hành vi
교육 : giáo dục
사회화 : xã hội hóa
행동 교정 : điều chỉnh hành vi
훈련사 : huấn luyện viên
맞춤 : tùy chỉnh / cá nhân hóa

🔄 10. Xu hướng – thay đổi
흐름 : xu hướng
중심에 있다 : ở trung tâm
전환되다 : chuyển đổi
확장되다 : mở rộng
스며들다 : thấm vào

💡 Cụm quan trọng nên nhớ
~에 발맞춰 : theo kịp / phù hợp với
~을 중심으로 : xoay quanh ~
~을 계기로 : làm bước ngoặt
~에 스며들다 : thấm vào

김혜린 기자 kimhyelin211@korea.kr
Bài viết từ Kim Hyelin, kimhyelin211@korea.kr

April 10, 2026

저출산 위기 속 희망의 반등, 한국 전통 출산 문화 재조명 – Tín hiệu phục hồi giữa khủng hoảng sinh thấp, nhìn lại văn hóa sinh con Hàn Quốc

저출산 위기 속 희망의 반등, 한국 전통 출산 문화 재조명 – Tín hiệu phục hồi giữa khủng hoảng sinh thấp, nhìn lại văn hóa sinh con Hàn Quốc

고착화된 인구 절벽의 위기 속에서 작지만 분명한 희망의 신호가 감지됐다. 2025년 출생아 수가 전년 대비 6.8% 증가하며 반등에 성공했다. 코리아넷은 그간 이어진 '초저출산' 흐름에 유의미한 변화를 이끈 정부 정책의 현주소와 한국 특유의 출산 문화를 3회에 걸쳐 집중 조명한다.

Trong bối cảnh khủng hoảng dân số hiện tại, một tín hiệu hy vọng tuy nhỏ nhưng rõ nét đã xuất hiện. Số trẻ em sinh ra trong năm 2025 đã tăng 6,8% so với năm trước đó, cho thấy xu hướng phục hồi. Korea.net mang đến loạt bài viết gồm 3 kỳ, nhằm giới thiệu đến độc giả những nét đặc trưng trong văn hóa sinh con của Hàn Quốc và phân tích các chính sách của Chính phủ đã tạo ra sự thay đổi có ý nghĩa để ứng phó với tình trạng “tỷ lệ sinh siêu thấp”.

▲7일 서울 종로구 국립민속박물관에서 열린 특별전 ‘출산, 모두의 잔치’를 찾은 외국인 가족이 아기띠의 과거와 현재 모습을 살펴보고 있다. 한국은 전통적으로 커다란 누비천에 긴 끈이 달린 '포대기'를 사용해 아기를 등에 업는 ‘어부바’ 문화가 발달했다. 서양에서는 주로 아기를 앞으로 안지만, 한국의 전통 육아 방식은 엄마와 아이의 밀착감을 높여주는 독특한 특징이 있다. Ngày 7/4 tại Bảo tàng Dân gian Quốc gia ở quận Jungno, Seoul, một gia đình người nước ngoài tham quan triển lãm đặc biệt 'Sinh con, niềm vui chung của mọi nhà' đang tìm hiểu về hình dáng xưa và nay của địu em bé. Từ xưa ở Hàn Quốc đã có truyền thống 'eobuba' - cõng trẻ trên lưng bằng 'podaegi', một loại địu làm từ vải chần bông có dây dài. Trong khi phương Tây thường ẵm con phía trước, cách thức truyền thống của Hàn Quốc có đặc điểm riêng là giúp tăng sự gắn kết giữa mẹ và con. (Ảnh: Park Daejin / Korea.net)
▲7일 서울 종로구 국립민속박물관에서 열린 특별전 ‘출산, 모두의 잔치’를 찾은 외국인 가족이 아기띠의 과거와 현재 모습을 살펴보고 있다. 한국은 전통적으로 커다란 누비천에 긴 끈이 달린 '포대기'를 사용해 아기를 등에 업는 ‘어부바’ 문화가 발달했다. 서양에서는 주로 아기를 앞으로 안지만, 한국의 전통 육아 방식은 엄마와 아이의 밀착감을 높여주는 독특한 특징이 있다. Ngày 7/4 tại Bảo tàng Dân gian Quốc gia ở quận Jungno, Seoul, một gia đình người nước ngoài tham quan triển lãm đặc biệt 'Sinh con, niềm vui chung của mọi nhà' đang tìm hiểu về hình dáng xưa và nay của địu em bé. Từ xưa ở Hàn Quốc đã có truyền thống 'eobuba' - cõng trẻ trên lưng bằng 'podaegi', một loại địu làm từ vải chần bông có dây dài. Trong khi phương Tây thường ẵm con phía trước, cách thức truyền thống của Hàn Quốc có đặc điểm riêng là giúp tăng sự gắn kết giữa mẹ và con. (Ảnh: Park Daejin / Korea.net)

연간 25만 명이 넘는 새 생명의 울음소리가 다시금 사회의 활기를 깨우는 지금, 국립민속박물관에서 열린 '출산, 모두의 잔치' 특별전은 그 어느 때보다 각별한 울림을 전한다.

Trong thời điểm tiếng khóc chào đời của hơn 250.000 sinh linh mỗi năm đang một lần nữa đánh thức sức sống của xã hội, triển lãm đặc biệt “Sinh con, niềm vui chung của mọi nhà” diễn ra tại Bảo tàng Dân gian Quốc gia Hàn Quốc mang đến những dư âm sâu sắc hơn bao giờ hết.

전시는 아이의 탄생을 단순한 '가족의 사건'이 아닌 '공동체의 축제'로 여겼던 선조들의 지혜를 빌려 오늘날 우리가 되찾아야 할 생명의 본질을 묻는다. 전시장 곳곳에 배치된 유물들은 한국인만이 가진 독특한 출산 문화와 그 속에 숨겨진 지혜를 가감 없이 보여준다. 대문에 금줄을 치고 산모를 위해 미역국을 끓이며, 1000명의 마음을 모아 '천인천자문'을 써 내려가던 지극한 간절함. 이 마음은 오늘날 산후조리원과 육아 커뮤니티라는 새로운 형태로 그 맥을 잇고 있다.

Triển lãm đưa ra quan điểm của tiền nhân - những người cho rằng sự ra đời của một đứa trẻ không chỉ là “việc riêng của gia đình” mà là “lễ hội của cả cộng đồng” - để đặt ra câu hỏi về bản chất của sự sống mà chúng ta cần tìm lại trong hiện tại. Những hiện vật được bố trí khắp không gian trưng bày đã tái hiện một cách chân thực nét văn hóa sinh nở độc đáo của người Hàn Quốc cùng những tầng ý nghĩa ẩn chứa bên trong. Từ việc treo dây cấm (geumjul) trước cổng, nấu canh rong biển cho sản phụ, đến tấm lòng thành khẩn cùng nhau viết nên “Thiên nhân thiên tự văn” với sự chung tay của hàng nghìn người. Tinh thần ấy ngày nay vẫn được tiếp nối dưới những hình thức mới như các trung tâm chăm sóc sau sinh và các cộng đồng nuôi dạy con.

 ▲7일 서울 종로구 국립민속박물관에서 열린 특별전 ‘출산, 모두의 잔치’에 한국 전통 출산 관습인 '금줄'이 전시돼 있다. Ngày 7, tại Bảo tàng Dân gian Quốc gia Hàn Quốc ở quận Jongno, Seoul, dây geumjul - một phong tục sinh nở truyền thống của Hàn Quốc - được trưng bày tại triển lãm đặc biệt “Sinh con, niềm vui chung của mọi nhà”. (Ảnh: Park Daejin / Korea.net)

■ 붉은 고추와 검은 숯: 경계의 신호 '금줄' - Ớt đỏ và than đen: Dây “geumjul” – tín hiệu của ranh giới bảo vệ

아이가 태어나면 한국의 대문에는 금줄이 걸렸다. 아들이면 고추, 딸이면 숯을 꽂은 새끼줄을 대문에 걸어 21일 동안 외부인의 출입을 엄격히 제한했다. 이는 단순히 출산을 알리는 표식을 넘어, 외부의 부정한 기운을 막는 신성한 경계선이었다. 면역력이 약한 산모와 아기를 보호하려는 선조들의 과학적 지혜가 담긴 관습이다. 일본의 '시메나와'나 서구권의 문 리본이 주로 축하의 의미를 담는다면, 한국의 금줄은 '금기'란 장치로 생명을 보호하려는 공동체의 약속이다.

Khi một đứa trẻ chào đời, trước cổng nhà ở Hàn Quốc sẽ treo geumjul (dây cấm). Nếu là con trai, người ta cắm ớt đỏ, nếu là con gái thì cắm than đen vào sợi dây rơm rồi treo trước cổng, hạn chế người ngoài ra vào trong 21 ngày. Sợi dây này không chỉ đơn thuần là dấu hiệu báo tin sinh nở mà còn là một ranh giới linh thiêng nhằm ngăn chặn những điều xui rủi từ bên ngoài. Đây là một phong tục chứa đựng trí tuệ mang tính “khoa học” của người xưa, với mục đích bảo vệ sản phụ và em bé khi hệ miễn dịch còn yếu. Nếu như shimenawa của Nhật Bản hay dải ruy băng treo trước cửa ở phương Tây chủ yếu mang ý nghĩa chúc mừng, thì geumjul của Hàn Quốc lại thể hiện một thỏa thuận của cộng đồng trong việc bảo vệ sự sống thông qua “điều cấm kỵ”

▲국립민속박물관 특별전에서 전시된 전통 출산 재현 모습. 아이의 탄생을 관장하는 삼신에게 올리는 밥과 미역국(삼신상), 그리고 아이를 맞이하던 짚자리와 탯줄을 자를 때 사용하던 전통 도구들이 놓여 있다. 새 생명의 탄생을 앞두고 산모와 아이의 건강을 간절히 기원했던 한국의 전통 문화를 잘 보여준다. Hình ảnh tái hiện nghi thức sinh nở truyền thống được trưng bày tại triển lãm đặc biệt của Bảo tàng Dân gian Quốc gia Hàn Quốc. Mâm cúng gồm cơm và canh rong biển được chuẩn bị cho thần samshin - vị thần bảo hộ việc sinh nở, cùng với chiếu rơm dùng để đón em bé và các dụng cụ truyền thống để cắt dây rốn. Sự chuẩn bị này thể hiện rõ nét văn hóa truyền thống của Hàn Quốc, nơi người ta tha thiết cầu mong cho sức khỏe của mẹ và bé trước thời khắc chào đón một sinh linh mới. (Ảnh: Park Daejin / Korea.net)
▲국립민속박물관 특별전에서 전시된 전통 출산 재현 모습. 아이의 탄생을 관장하는 삼신에게 올리는 밥과 미역국(삼신상), 그리고 아이를 맞이하던 짚자리와 탯줄을 자를 때 사용하던 전통 도구들이 놓여 있다. 새 생명의 탄생을 앞두고 산모와 아이의 건강을 간절히 기원했던 한국의 전통 문화를 잘 보여준다. Hình ảnh tái hiện nghi thức sinh nở truyền thống được trưng bày tại triển lãm đặc biệt của Bảo tàng Dân gian Quốc gia Hàn Quốc. Mâm cúng gồm cơm và canh rong biển được chuẩn bị cho thần samshin - vị thần bảo hộ việc sinh nở, cùng với chiếu rơm dùng để đón em bé và các dụng cụ truyền thống để cắt dây rốn. Sự chuẩn bị này thể hiện rõ nét văn hóa truyền thống của Hàn Quốc, nơi người ta tha thiết cầu mong cho sức khỏe của mẹ và bé trước thời khắc chào đón một sinh linh mới. (Ảnh: Park Daejin / Korea.net)

■ 왜 한국인은 출산 후 '미역국'을 먹는가? Vì sao người Hàn Quốc ăn 'canh rong biển' sau khi sinh con?

전시관 한편을 채운 소박한 미역국 상차림은 한국 산후조리의 상징이다. 새끼를 낳은 고래가 미역으로 산후 상처를 치료하는 것을 보고 산모에게 먹이기 시작했다는 설이 전해진다. 미역은 요오드와 칼슘이 풍부해 자궁 수축과 혈액 정화에 탁월하다는 게 현대 의학으로도 입증됐다. 서구권은 영양 보충을 위해 스테이크나 채소를 권하기도 하지만, 한국은 따뜻한 국물로 몸의 회복을 돕는 '온(溫)' 문화를 고수한다. 산모를 정성껏 대접하는 한국 특유의 '정' 이 담긴 보살핌이다.

Một mâm canh rong biển giản dị được bày trong một góc phòng trưng bày là biểu tượng của văn hóa chăm sóc sau sinh ở Hàn Quốc. Tương truyền rằng người xưa bắt đầu cho sản phụ ăn canh rong biển sau khi quan sát cá voi mẹ ăn rong biển để chữa lành vết thương sau khi sinh con. Rong biển giàu i-ốt và canxi, được y học hiện đại chứng minh là có tác dụng hỗ trợ tử cung co rút lại và thanh lọc máu. Trong khi phương Tây thường khuyến nghị ăn thịt bò hoặc rau để bổ sung dinh dưỡng, Hàn Quốc vẫn duy trì văn hóa “nhiệt” - giúp cơ thể hồi phục bằng những món ăn ấm nóng như canh. Đó cũng cách thể hiện tình cảm đặc trưng của người Hàn Quốc, thông qua sự quan tâm và chăm sóc tận tình dành cho sản phụ.

▲국립민속박물관에서 특별전 ‘출산, 모두의 잔치’에서 전시된 '백일저고리' 모습. Hình ảnh “baekil jeogori” (áo truyền thống cho trẻ sơ sinh 100 ngày tuổi) được trưng bày tại triển lãm đặc biệt “Sinh con, niềm vui chung của mọi nhà” ở Bảo tàng Dân gian Quốc gia Hàn Quốc. (Ảnh: Park Daejin / Korea.net)
▲국립민속박물관에서 특별전 ‘출산, 모두의 잔치’에서 전시된 '백일저고리' 모습. Hình ảnh “baekil jeogori” (áo truyền thống cho trẻ sơ sinh 100 ngày tuổi) được trưng bày tại triển lãm đặc biệt “Sinh con, niềm vui chung của mọi nhà” ở Bảo tàng Dân gian Quốc gia Hàn Quốc. (Ảnh: Park Daejin / Korea.net)

■ '백일저고리'에 담긴 무병장수의 염원 - “Baekil jeogori” – ước nguyện cho em bé khỏe mạnh, sống lâu

아이의 백일저고리는 깃과 섶을 달지 않고 솔기를 최소화해 만든다. 아이의 앞날에 막힘이 없기를 바라는 부모의 마음이다. 특히 전시된 배냇저고리(아이가 태어나 처음 입는 옷)는 누군가의 손때가 묻어 있어, 한 생명이 살아남기를 간절히 바랐던 가족들의 기도가 생생히 느껴진다. 이 문화는 오늘날에도 이어져, 새 생명을 맞이하는 소중한 출산 선물로 여전히 사랑받고 있다.

Áo baekil jeogori của trẻ được may với thiết kế tối giản, không có cổ áo và vạt áo, các đường may cũng được giảm thiểu tối đa. Điều này thể hiện mong muốn của cha mẹ rằng con đường phía trước của đứa trẻ sẽ suôn sẻ, không gặp trở ngại. Đặc biệt, chiếc áo baenaet jeogori (bộ quần áo đầu tiên em bé mặc sau khi chào đời) được trưng bày còn mang dấu tay của người dùng, khiến người xem cảm nhận rõ sự chuẩn bị của gia đình để chào đón một sinh linh. Truyền thống này vẫn được tiếp nối đến ngày nay, khi người ta vẫn rất chuộng tặng nhau những món đồ này như món quà đầy ý nghĩa để chào đón một em bé ra đời.

■ 시대를 관통하는 '모성 연대'의 기록 - “Sự kết nối của những người mẹ” qua từng thời đại

새 생명을 맞이하는 두려움을 용기로 바꿨던 여성들의 연대는 세대를 넘어 이어져 왔다. 1900년대 초, 친정어머니가 시집간 딸에게 보낸 빛바랜 편지에는 경험에서 우러나온 당부와 애틋한 사랑이 눈물처럼 박혀 있다. 2000년대 육아서를 거쳐 오늘날 전시의 마지막을 장식하는 것은 스마트폰 속 맘카페와 단체 채팅방이다. 실시간으로 쏟아지는 육아 고민과 서로를 다독이는 메시지들은 현대판 '생활지침서'이자 '어머니의 편지'다.

Sự gắn kết giữa những người phụ nữ, những người đã biến nỗi sợ khi đón nhận một sinh linh mới thành lòng can đảm, đã được tiếp nối qua nhiều thế hệ. Những năm đầu thế kỷ 20, khi con gái đi lấy chồng, người mẹ thường viết cho con những lá thư với từng lời dặn dò đúc kết từ kinh nghiệm đã trải qua cùng tình yêu thương sâu nặng dành cho con. Phần kết của triển lãm dẫn người tham quan đi từ các cuốn sách nuôi dạy con những năm 2000, đến ngày nay, các “mom café” (quán dành cho các mẹ) và phòng chat nhóm trên điện thoại thông minh. Những chia sẻ về nỗi lo nuôi con được cập nhật theo thời gian thực, cùng những lời động viên dành cho nhau, chính là phiên bản hiện đại của “cẩm nang cuộc sống” và “lá thư của mẹ” ngày xưa.

▲7일 서울 종로구 국립민속박물관에서 열린 ‘출산, 모두의 잔치’에서 외국인 관람객이 현대적인 육아 용품 전시 코너를 흥미롭게 살펴보고 있다. Ngày 7/4, tại Bảo tàng Dân gian Quốc gia Hàn Quốc ở quận Jongno, Seoul, du khách nước ngoài chăm chú tham quan khu trưng bày các sản phẩm chăm sóc trẻ em hiện đại tại triển lãm “Sinh con, niềm vui chung của mọi nhà”. (Ảnh: Park Daejin / Korea.net)
▲7일 서울 종로구 국립민속박물관에서 열린 ‘출산, 모두의 잔치’에서 외국인 관람객이 현대적인 육아 용품 전시 코너를 흥미롭게 살펴보고 있다. Ngày 7/4, tại Bảo tàng Dân gian Quốc gia Hàn Quốc ở quận Jongno, Seoul, du khách nước ngoài chăm chú tham quan khu trưng bày các sản phẩm chăm sóc trẻ em hiện đại tại triển lãm “Sinh con, niềm vui chung của mọi nhà”. (Ảnh: Park Daejin / Korea.net)

출산을 단순한 숫자가 아닌 생명이 탄생하는 기적의 순간으로 조명하는 이번 전시는 오는 5월 10일까지 개최된다. 전시의 자세한 내용은 국립민속박물관 공식 누리집에서 확인할 수 있다.

Với chủ đề về việc sinh con, triển lãm này không dừng lại ở việc đưa ra những con số mà chú trọng đề cao khoảnh khắc kỳ diệu khi một sinh linh ra đời, sẽ diễn ra đến ngày 10/5. Thông tin chi tiết có tại trang web chính thức của Bảo tàng Dân gian Quốc gia Hàn Quốc (https://www.nfm.go.kr/home/index.do)

서울 = 홍안지 기자 shong9412@korea.kr
사진 = 박대진 기자 pacdaejin@korea.kr
Bài viết từ Hong Angie, shong9412@korea.kr

궁궐에서 즐기는 전통과 K-컬처···궁중문화축전 24일 개막 - Khai mạc Lễ hội Văn hóa Cung đình - Trải nghiệm K-culture tại cung điện

궁궐에서 즐기는 전통과 K-컬처···궁중문화축전 24일 개막 - Khai mạc Lễ hội Văn hóa Cung đình - Trải nghiệm K-culture tại cung điện

 ▲ 매년 봄과 가을, 두 번 열리는 궁궐 잔치 '궁중문화축전'이 지난해 137만여 명의 관람객을 동원하며 역대 최다 기록을 경신했다. 사진은 지난해 4월 경복궁 일대에서 열린 봄 궁준문화축전의 개막식. Lễ hội văn hóa cung đình, diễn ra hai lần mỗi năm vào mùa xuân và mùa thu, đã thu hút khoảng 1,37 triệu lượt khách tham quan vào năm ngoái, lập kỷ lục cao nhất từ trước đến nay. Trong ảnh là lễ khai mạc Lễ hội Văn hóa Cung đình mùa xuân được tổ chức vào tháng 4 năm ngoái tại Cung điện Gyeongbokgung. (Nguồn: Cục Di sản Quốc gia)

한국 전통 문화를 만끽할 수 있는 제12회 궁중문화축전이 오는 25일부터 다음달 3일까지 서울 궁궐과 종묘에서 펼쳐진다. Lễ hội Văn hóa Cung đình lần thứ 12, nơi du khách có thể trải nghiệm văn hóa truyền thống Hàn Quốc, sẽ diễn ra từ ngày 25/4 đến ngày 3/5 tại các cung điện ở Seoul và Tông miếu Jongmyo.

개막식은 오는 24일 경복궁 흥례문 광장에서 열린다. '2025년 APEC 정상회의' 문화행사를 이끈 양정웅 감독이 연출을 맡아 궁중 미학과 K-콘텐츠 감각이 어우러진 공연을 선보인다.

Lễ khai mạc sẽ được tổ chức vào ngày 24/4 tại quảng trường Heungnyemun của Cung điện Gyeongbokgung. Đạo diễn Yang Jeong-ung, người từng chỉ đạo các sự kiện văn hóa cho “Hội nghị cấp cao APEC 2025”, sẽ đảm nhận dàn dựng, mang đến một chương trình kết hợp giữa mỹ học cung đình và cảm quan K-content.

경복궁에서는 조선시대 궁궐을 재현한 대규모 체험 프로그램을 비롯해, 궁중 예술인들을 만날 수 있는 행사와 무형유산 전승자들과 함께하는 체험 프로그램이 관람객을 맞이한다. 어린이를 위한 프로그램도 다양하게 운영한다.

Tại Cung Gyeongbokgung, du khách sẽ được tham gia chương trình tái hiện cung điện thời đại Joseon, các sự kiện gặp gỡ nghệ nhân cung đình và trải nghiệm di sản văn hóa phi vật thể. Bên cạnh đó, nhiều hoạt động đa dạng dành cho trẻ em cũng được tổ chức.

창덕궁에서는 이른 아침과 야간에 궁을 둘러볼 수 있는 특별 프로그램을 진행한다. 1828년 효명세자(추존 문조)가 어머니 순원왕후(순조의 왕비)의 40세 생일을 기념해 연회를 준비하는 과정을 체험하는 프로그램도 마련했다. 인정전에선 수제천, 태평가, 아리랑 등 국악 선율이 공간을 채운다.

Tại Cung Changdeokgung sẽ diễn ra các chương trình đặc biệt cho phép du khách tham quan cung điện vào sáng sớm và ban đêm. Ngoài ra, còn có chương trình tái hiện quy trình chuẩn bị yến tiệc vào năm 1828 do Thế tử Hyomyeong (truy tôn là Vua Munjo) tổ chức để mừng sinh nhật lần thứ 40 của mẹ là Vương hậu Sunwon (vợ của Vua Sunjo). Tại điện Injeongjeon, khách tham quan sẽ được thưởng thức những giai điệu quốc nhạc truyền thống như “Sujecheon”, “Taepyeongga” và “Arirang”.

▲ 지난해 4월 덕수궁에서 열린 '황제의 식탁'. “Bàn tiệc của Hoàng đế” được tổ chức vào tháng 4 năm ngoái tại Cung điện Deoksugung. (Ảnh: Cục Di sản Quốc gia)
▲ 지난해 4월 덕수궁에서 열린 '황제의 식탁'. “Bàn tiệc của Hoàng đế” được tổ chức vào tháng 4 năm ngoái tại Cung điện Deoksugung. (Ảnh: Cục Di sản Quốc gia)

덕수궁에서는 대한제국 황실의 음악과 음식 문화를 체험할 수 있는 프로그램이 참여자를 기다리고 있다. 정관헌에선 고종이 즐겼던 양탕국(커피)을 시음하며 다양한 취미 활동을 체험할 수 있다. 중명전에서는 외국인 관람객을 위한 황실 연회 음식 시식회가 열려 궁중음식의 맛과 역사를 전한다.

Tại Cung Deoksugung, các chương trình trải nghiệm âm nhạc và ẩm thực của hoàng thất Đại Hàn đang chờ đón du khách tham gia. Tại Jeonggwanheon, du khách có thể thưởng thức “yangtangguk” (cà phê) – thức uống từng được Vua Cao Tông yêu thích – đồng thời trải nghiệm nhiều hoạt động giải trí thú vị. Tại Jungmyeongjeon, sẽ diễn ra chương trình dùng thử món ăn trong yến tiệc hoàng gia dành cho du khách nước ngoài, mang đến cơ hội khám phá hương vị và lịch sử của ẩm thực cung đình.

창경궁에서는 왕과 왕비의 일상 속으로 들어갈 수 있다. 영춘헌에서는 1인 책상에서 독서를 하며 궁중차를 즐길 수 있고, 대온실에서는 향낭 만들기 체험이 가능하다. 통명전에서 상궁의 안내로 왕비와 만나는 참여형 연극은 이곳에서만 마주할 수 있는 특별한 즐거움이다. 국가무형유산 공예품 전시 관람과 전통 보자기 포장 체험이 더해져 풍성한 즐거움을 선사한다.

Tại Cung Changgyeonggung, du khách có thể trải nghiệm đời sống thường nhật của vua và hoàng hậu. Tại Yeongchunheon, du khách có thể ngồi đọc sách và thưởng thức trà cung đình. Ở nhà kính Daeonsil, có chương trình trải nghiệm làm túi thơm truyền thống (hyangnang). Tại điện Tongmyeongjeon, vở kịch tương tác nơi người xem có thể gặp gỡ hoàng hậu dưới sự dẫn dắt của cung nữ thượng cung, mang đến trải nghiệm độc đáo chỉ có duy nhất tại đây. Ngoài ra, tại đây còn có triển lãm các sản phẩm thủ công thuộc di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và lớp dạy gói quà bằng vải bojagi truyền thống, tạo điều kiện cho du khách có thể trải nghiệm nhiều hoạt động phong phú.

▲ 지난해 4월 종묘에서 열린 종묘제례악 야간 공연. Đêm Nhã nhạc Tông miếu được tổ chức vào tháng 4 năm ngoái tại Jongmyo. (Ảnh: Cục Di sản Quốc gia)
▲ 지난해 4월 종묘에서 열린 종묘제례악 야간 공연. Đêm Nhã nhạc Tông miếu được tổ chức vào tháng 4 năm ngoái tại Jongmyo. (Ảnh: Cục Di sản Quốc gia)

경희궁 흥화문에서 숭정문까지 국가유산진흥원 예술단의 화려한 길놀이가 이어진다. 사자춤과 진도북춤, 판굿 등 신명 나는 전통 공연이 궁궐 마당을 가득 채운다. 종묘에서는 유네스코 인류무형유산인 종묘제례악이 장엄한 무대로 관객을 압도한다.

Từ cổng Heunghwamun đến cổng Sungjeongmun của Cung Gyeonghuigung, đoàn nghệ thuật của Viện Di sản Văn hóa Quốc gia sẽ trình diễn các màn diễu hành rực rỡ. Những tiết mục dân gian sôi động như múa sư tử, điệu múa với trống Jindo và pangut sẽ làm bừng sáng không gian cung. Tại Tông miếu Jongmyo, Nhã nhạc Tông miếu – di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại được UNESCO công nhận – sẽ mang đến một sân khấu trang nghiêm, gây ấn tượng mạnh với khán giả.

사전 예약이 필요한 프로그램은 8일부터 순차적으로 예약을 받는다. 자세한 사항은 '2026 봄 궁중문화축전' 공식 누리집(https://www.kh.or.kr/fest)이나 인스타그램(@royalculturefestival_official)에서 확인할 수 있다.

Các chương trình cần đặt chỗ trước sẽ nhận đăng ký bắt đầu từ ngày 8/4. Thông tin chi tiết có trên trang web chính thức của “Lễ hội Văn hóa Cung đình mùa xuân 2026” (https://www.kh.or.kr/fest hoặc trên Instagram (@royalculturefestival_official).

샤를 오두앙 기자 caudouin@korea.kr
사진 = 국가유산청
Bài viết từ Charles Audouin, caudouin@korea.kr

 

March 18, 2026

[Hàn Quốc ngày nay] Phần 1: “Cuộc thi hát toàn quốc” độc nhất vô nhị của Hàn Quốc

[Hàn Quốc ngày nay] Phần 1: “Cuộc thi hát toàn quốc” độc nhất vô nhị của Hàn Quốc

Chương trình quốc dân “Cuộc thi hát toàn quốc” của Đài KBS

Chương trình “Jeonguknoraejarang”- “Cuộc thi hát toàn quốc” của Đài phát thanh và truyền hình Hàn Quốc (KBS) là chương trình tìm kiếm tài năng có tuổi đời lâu nhất trong số các chương trình hiện đang phát sóng. Hầu hết người dân Hàn Quốc đều đã từng xem chương trình này ít nhất một lần trong đời.

 Poster chương trình “Cuộc thi hát toàn quốc” ⓒ KBS

Mối nhân duyên của “Cuộc thi hát toàn quốc” và MC Song Hae

“Cuộc thi hát toàn quốc” là chương trình tìm kiếm tài năng ca hát dành cho toàn dân, được phát sóng vào lúc 12 giờ 10 phút trưa Chủ nhật hàng tuần kể từ năm 1980. Từ năm 1988, nghệ sĩ Song Hae đã đảm nhận vai trò MC và đồng hành cùng chương trình suốt gần 35 năm. Với phong cách dẫn dắt thân thiện và gần gũi, ông đã trở thành biểu tượng của chương trình, đúng như biệt danh “Oppa”-người anh thân thương được nhiều thế hệ khán giả yêu mến. Sau khi MC Song Hae qua đời vào năm 2022, nữ danh hài Kim Shin-young và sau đó là nam danh hài Nam Hee-seok đã tiếp nối vai trò dẫn dắt chương trình.

MC Song Hae và thí sinh tham gia chương trình ⓒ KBS
MC Song Hae và thí sinh tham gia chương trình ⓒ KBS

MC Nam Hee-seok hiện đang dẫn dắt “Cuộc thi hát toàn quốc” ⓒ KBS
MC Nam Hee-seok hiện đang dẫn dắt “Cuộc thi hát toàn quốc” ⓒ KBS

“Cuộc thi hát toàn quốc” trở thành lễ hội âm nhạc của người dân

“Cuộc thi hát toàn quốc” dần trở thành một lễ hội lưu động do chính người dân địa phương tạo nên. Thí sinh tham gia không chỉ hát mà còn kết hợp vũ đạo, mang đến bầu không khí như một buổi trình diễn thực thụ. Sự cổ vũ nhiệt tình từ khán giả khiến mọi thứ như hòa thành một. Một trong những biểu tượng đặc trưng của chương trình là âm thanh “teng”- tín hiệu báo thí sinh bị loại giữa chừng, yếu tố làm nên thương hiệu riêng của chương trình. Dù âm thanh đó vang lên, các thí sinh vẫn tiếp tục tận hưởng sân khấu trước tràn vỗ tay từ khán giả, càng làm nổi bật thêm sức hút đặc biệt của chương trình.

“Cuộc thi hát toàn quốc” tập phát sóng tại thành phố Icheon (tỉnh Gyeonggi) ⓒ KBS
“Cuộc thi hát toàn quốc” tập phát sóng tại thành phố Icheon (tỉnh Gyeonggi) ⓒ KBS

“Cuộc thi hát toàn quốc” tập phát sóng tại bãi biển Mongsanpo (huyện Taean, tỉnh Nam Chungcheong) ⓒ KBS
“Cuộc thi hát toàn quốc” tập phát sóng tại bãi biển Mongsanpo (huyện Taean, tỉnh Nam Chungcheong) ⓒ KBS

Đàn mộc cầm xylophone trong “Cuộc thi hát toàn quốc” ⓒ KBS
Đàn mộc cầm xylophone trong “Cuộc thi hát toàn quốc” ⓒ KBS

Từ chương trình truyền hình trở thành loại hình nghệ thuật riêng biệt

Từ “toàn quốc” trong “Cuộc thi hát toàn quốc” không chỉ mang nghĩa về phạm vi địa lý, mà còn chỉ bất cứ nơi nào có người Hàn Quốc sinh sống. Chương trình từng được tổ chức tại nhiều quốc gia như Paraguay, Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, và thậm chí mở rộng sân khấu đến Bình Nhưỡng (thủ đô Bắc Triều Tiên) vào năm 2003. “Cuộc thi hát toàn quốc” không chỉ là một cuộc thi, mà còn là không gian giao lưu, kết nối cộng đồng địa phương và các thế hệ, vượt qua khuôn khổ một chương trình truyền hình để trở thành một thể loại nghệ thuật độc đáo.

“Cuộc thi hát toàn quốc” tập phát sóng tại Bình Nhưỡng (Bắc Triều Tiên) ⓒ KBS
“Cuộc thi hát toàn quốc” tập phát sóng tại Bình Nhưỡng (Bắc Triều Tiên) ⓒ KBS

February 26, 2026

'한류 문법이 바뀐다'··· ‘K-팝’ 넘어 문학·영화·관광·소비로 진화 - “Cấu trúc của Hallyu đang thay đổi”, từ K-pop mở rộng ra lĩnh vực văn học, phim ảnh, du lịch, tiêu dùng

'한류 문법이 바뀐다'··· ‘K-팝’ 넘어 문학·영화·관광·소비로 진화 - “Cấu trúc của Hallyu đang thay đổi”, từ K-pop mở rộng ra lĩnh vực văn học, phim ảnh, du lịch, tiêu dùng

 ▲ 문화체육관광부와 한국문화정보원이 25일 발표한 ‘2025 외신·소셜데이터로 보는 글로벌 한류 트렌드 분석 보고서'에 따르면 한류가 음악 중심에서 문학, 영화, 관광 등으로 다변화되고 있는 것으로 나타났다. 사진은 블랙핑크 로제와 브루노 마스의 듀엣곡 '아파트'(APT.) 공연 모습. Theo "Báo cáo phân tích xu hướng Hallyu toàn cầu qua truyền thông nước ngoài và dữ liệu mạng xã hội năm 2025" do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Viện Thông tin Văn hóa Hàn Quốc công bố ngày 25, làn sóng Hallyu đang trở nên đa dạng hơn, mở rộng trọng tâm từ lĩnh vực âm nhạc sang các lĩnh vực văn học, điện ảnh, du lịch, v.v. Trong hình là ca sĩ Rosé (BLACKPINK) và ca sĩ Bruno Mars đang biểu diễn ca khúc song ca “APT”. (Ảnh: CJ ENM)

한류가 음악 중심에서 문학, 영화, 관광 등으로 다변화되고 있는 것으로 나타났다. Làn sóng Hallyu đang trở nên đa dạng hơn, từ lĩnh vực trọng tâm là âm nhạc mở rộng ra các lĩnh vực như văn học, điện ảnh, du lịch, v.v.

문화체육관광부와 한국문화정보원은 25일 ‘2025 외신·소셜데이터로 보는 글로벌 한류 트렌드 분석 보고서'를 발표했다.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc cùng Viện Thông tin Văn hóa Hàn Quốc vào ngày 25 đã công bố "Báo cáo phân tích xu hướng Hallyu toàn cầu qua truyền thông nước ngoài và dữ liệu mạng xã hội năm 2025".

이번 보고서는 2024년 10월부터 지난해 9월까지 30개국 외신 기사와 누리소통망(SNS) 자료 약 150만 건을 수집·분석했다.

Báo cáo lần này đã thu thập và phân tích khoảng 1,5 triệu bài báo từ truyền thông nước ngoài và dữ liệu mạng xã hội (SNS) của 30 quốc gia trong giai đoạn từ tháng 10/2024 đến tháng 9/2025.

지난해 한 해 한류 관련 외신 보도는 아시아(44%), 유럽(20.8%), 북미(16.9%) 순으로 많은 것으로 나타났다. 아시아·유럽·북미·중남미 등 대부분 지역에서 K-팝 비중이 가장 높았다. K-팝이 주도하는 보편적 흐름 속에서도 아프리카만큼은 ‘K-문학’을 향한 조명이 두드러지며 차별화된 양상을 보였다. 오세아니아에선 ‘K-영화’가 비중있게 다뤄졌다.

Trong năm vừa qua, khu vực có các bài báo nước ngoài đề cập đến Hallyu nhiều nhất theo thứ tự là châu Á (44%), châu Âu (20.8%), Bắc Mỹ (16.9%). K-pop chiếm tỷ trọng cao nhất ở hầu hết các khu vực như châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ, Mỹ Latinh. Mặt khác, tuy K-pop dẫn đầu xu hướng chung, nhưng riêng ở châu Phi thì truyền thông lại dành sự chú ý đặc biệt cho "Văn học Hàn Quốc", điều này cho thấy vẫn có một hình ảnh khác biệt theo khu vực. Tại khu vực châu Đại Dương, "Phim điện ảnh Hàn Quốc" là lĩnh vực được nhắc tới khá đáng kể.

국가별로는 미국, 인도, 아르헨티나, 베트남 순으로 보도량이 많았다. 일본에서는 ‘K-문학’, 베트남에서는 ‘K-드라마’가, 브라질에서는 ‘K-영화’ 비중이 상대적으로 높았다.

Xét theo từng quốc gia, nước có lượng bài đưa tin nhiều nhất lần lượt là Mỹ, Ấn Độ, Argentina và Việt Nam. Tại Nhật Bản, "Văn học Hàn Quốc" chiếm tỷ trọng tương đối cao, còn tại Việt Nam là "Phim truyền hình Hàn Quốc", tại Brazil là "Phim điện ảnh Hàn Quốc".

분야별로는 ‘K-푸드’의 세계적 유행이 돋보였다. 김치, 소주, 라면, 비빔밥 등 대중적・전통적 한식 요리 핵심어는 물론 셰프, 오징어 게임이 새롭게 연관 핵심어로 부상했다. 온라인동영상서비스(OTT) 플랫폼을 통해 요리 예능 프로그램인 ‘흑백 요리사’와 드라마 ‘오징어 게임’ 내에서 자연스럽게 노출된 한식이 세계적으로 재조명된 효과다.

Xét theo từng lĩnh vực, "Ẩm thực Hàn Quốc" nổi bật với sức lan tỏa toàn cầu. Ngoài các từ khóa gắn với ẩm thực truyền thống và đại chúng như kimchi, soju, mì ramyeon, bibimbap, các từ khóa mới như chef (đầu bếp), Squid Game (trò chơi con mực) cũng đang hiện diện làm những từ khóa liên quan. Đây là hiệu ứng của việc ẩm thực Hàn Quốc được đưa vào một cách tự nhiên trong chương trình ẩm thực thực tế "Culinary Class Wars" và phim truyền hình "Trò chơi con mực" trên nền tảng OTT, qua đó được thế giới nhìn nhận lại một cách sâu rộng hơn.

개별 콘텐츠로는 시청 수 3억 회를 돌파한 넷플릭스 애니메이션 영화 '케이팝 데몬 헌터스'가 가장 파급력이 컸던 것으로 분석됐다. 제주를 배경으로 한 넷플릭스 드라마 '폭싹 속았수다'도 국가별 정서에 맞춘 제목 현지화 전략과 보편적 가족애 서사로 국제적 공감대를 형성했다.

Về các nội dung văn hóa độc lập, bộ phim hoạt hình Netflix "K-pop Demon Hunters" với hơn 300 triệu lượt xem được đánh giá là có sức lan tỏa lớn nhất. Bộ phim truyền hình Netflix "Khi cuộc đời cho bạn quả quýt " lấy bối cảnh đảo Jeju cũng tạo được sự đồng cảm quốc tế nhờ chiến lược bản địa hóa tiêu đề phù hợp với cảm xúc từng quốc gia và câu chuyện về tình cảm gia đình mang tính phổ quát.

작가 한강의 노벨문학상 수상 이후 ‘K-문학’ 보도 비중은 전 분기 대비 30%포인트(p) 이상 증가했다. 외신은 ‘아시아 여성 최초 수상’이라는 상징성을 강조하며, 한국 문학이 세계 문학사에서 새로운 지평을 열었다고 평가했다.

Sau khi nhà văn Han Kang đoạt giải Nobel Văn học, tỷ trọng các bài viết về "Văn học Hàn Quốc" tăng hơn 30 điểm phần trăm (pp) so với quý trước đó. Truyền thông quốc tế đã nhấn mạnh ý nghĩa biểu tượng của việc "người phụ nữ châu Á đầu tiên nhận giải", đồng thời đánh giá rằng văn học Hàn Quốc đã mở ra một chân trời mới trong lịch sử văn học thế giới.

서애영 기자 xuaiy@korea.kr
Bài viết từ Xu Aiying, xuaiy@korea.kr

February 2, 2026

Từ K-pop đến K-museum: Sự tiến hóa văn hóa của Hàn Quốc

Từ K-pop đến K-museum: Sự tiến hóa văn hóa của Hàn Quốc

Các bảo tàng tại Hàn Quốc (K-museum) đã vượt ra khỏi vai trò là nơi thưởng thức nghệ thuật và văn hóa thuần túy, để trở thành những trung tâm dẫn dắt xu hướng tiêu dùng văn hóa. Những hàng người xếp hàng dài trước các triển lãm “hot”, cùng mạng xã hội tràn ngập ảnh check-in tại bảo tàng, đã nói lên tất cả. Sự chuyển dịch này phản ánh thay đổi trong hành vi tiêu dùng hậu đại dịch, sự phát triển của văn hóa chia sẻ trên mạng xã hội, nội dung trải nghiệm, và đặc biệt là sự bùng nổ của K-culture. Ngày nay, các bảo tàng Hàn Quốc không chỉ là nơi “xem” nghệ thuật, mà còn là nền tảng tạo ra và lan tỏa các xu hướng văn hóa đương đại.

K-museum: Nền tảng mới của K-culture

Hãy tưởng tượng bạn đang xem nghệ thuật trong một bảo tàng. Bạn có đang lặng lẽ chiêm nghiệm tác phẩm trong không gian “white cube” yên tĩnh không? Thực tế của bảo tàng ngày nay đã rất khác. Bảo tàng trở thành không gian văn hóa sôi động, nơi những người trẻ sành điệu xếp hàng từ sáng sớm để trải nghiệm và chia sẻ chuyến tham quan của mình.

Sau triển lãm Philippe Parreno tại Bảo tàng Nghệ thuật Leeum năm 2024, Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại và Hiện đại Quốc gia Hàn Quốc (MMCA) – cơ sở Seoul đã gây tiếng vang lớn với triển lãm Ron Mueck, thu hút hơn 500.000 lượt khách chỉ trong 90 ngày, trung bình 5.590 người mỗi ngày. Đáng chú ý, 73% khách tham quan ở độ tuổi 20–30, cho thấy mối quan tâm mạnh mẽ của thế hệ trẻ đối với bảo tàng. Nhà điêu khắc siêu thực người Úc này đã thu hút đông đảo công chúng mong muốn chiêm ngưỡng 10 trong số 48 tác phẩm hiếm hoi của ông được trưng bày cùng lúc. Sức hút quá lớn khiến catalog và hàng lưu niệm nhanh chóng cháy hàng, đồng thời số lượng hội viên của MMCA tăng vọt lên 70.000 người, gấp 4,5 lần so với năm trước.

Hiện tượng này không chỉ giới hạn ở các triển lãm “bom tấn”. Với 312 cơ sở trên toàn quốc tham gia chương trình “Tuần lễ Bảo tàng và Phòng trưng bày” của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, bảo tàng đã trở thành không gian văn hóa được ghé thăm thường xuyên. Những hạn chế trong việc xem trực tiếp tác phẩm thời kỳ đại dịch khiến công chúng trân trọng hơn trải nghiệm nghệ thuật tận mắt. Đồng thời, văn hóa chia sẻ trên mạng xã hội đã biến việc đi bảo tàng thành một lối sống thể hiện gu thẩm mỹ và bản sắc văn hóa. Instagram tràn ngập các hashtag như #museumtour hay #exhibitionrecommendation, và chính không gian triển lãm cũng được tiêu thụ như một dạng “nội dung trải nghiệm”. Nếu trước đại dịch, xem phim là hoạt động văn hóa chủ đạo của người Hàn, thì nay lượng người đi xem triển lãm đã vượt qua rạp chiếu phim.

“Echoes of the Earth: Living Archive” (Tiếng vọng của Trái đất: Kho lưu trữ sống) của Refik Anadol tại Futura Seoul
“Echoes of the Earth: Living Archive” (Tiếng vọng của Trái đất: Kho lưu trữ sống) của Refik Anadol tại Futura Seoul

Phòng Trưng bày Tiền sử và Cổ đại, Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc
Phòng Trưng bày Tiền sử và Cổ đại, Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc

Chuỗi triển lãm MMCA × LG OLED 2025 — TZUSOO, MMCA Seoul © Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại Quốc gia Hàn Quốc
Chuỗi triển lãm MMCA × LG OLED 2025 — TZUSOO, MMCA Seoul © Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại Quốc gia Hàn Quốc

Toàn cảnh triển lãm “Lee Bul: From 1998 to Now,” Bảo tàng Nghệ thuật Leeum, năm 2025 © Leeum Museum of Art. Ảnh: Jeon Byung-cheol
Toàn cảnh triển lãm “Lee Bul: From 1998 to Now,” Bảo tàng Nghệ thuật Leeum, năm 2025 © Leeum Museum of Art. Ảnh: Jeon Byung-cheol

Kiến trúc và bảo tàng: Mối quan hệ cộng sinh

Kiến trúc và không gian cũng trở thành yếu tố thu hút quan trọng đối với việc tham quan bảo tàng. Trên thế giới, những bảo tàng mang tính biểu tượng do các kiến trúc sư danh tiếng thiết kế—như Guggenheim Bilbao của Frank Gehry, Louvre Abu Dhabi của Jean Nouvel hay Guggenheim New York của Frank Lloyd Wright—đã trở thành một phần của chính trải nghiệm nghệ thuật. Tương tự, các bảo tàng Hàn Quốc đang dần được công nhận nhờ ngôn ngữ kiến trúc độc đáo của riêng mình.

Bảo tàng Thủ công Seoul được cải tạo từ tòa nhà cũ của Trường Nữ sinh Trung học Pungmoon, lấy cây bạch quả 400 năm tuổi làm trung tâm thiết kế, vừa bảo tồn ký ức của khu đất vừa kết nối quá khứ với hiện tại. Futura Seoul, không gian nghệ thuật tương lai nằm giữa các hanok ở Bukchon, đã giành Giải thưởng Lớn Kiến trúc Seoul 2025 nhờ sự kết hợp táo bạo giữa truyền thống và hiện đại. Với mặt ngoài trắng và đường cong mềm mại, tòa nhà đứng như một tác phẩm điêu khắc, tạo nên sự tương phản thị giác mạnh mẽ với cảnh quan xung quanh.

Xu hướng này cũng lan rộng ra ngoài Seoul. Museum SAN, do kiến trúc sư Tadao Ando thiết kế, nằm ở độ cao 720 mét tại Wonju (tỉnh Gangwon), thể hiện sự hài hòa giữa kiến trúc và nghệ thuật thông qua bê tông trần và ánh sáng tự nhiên. Tháng 6/2025, bảo tàng khai trương phòng trưng bày Antony Gormley thường trực đầu tiên trên thế giới, mang tên “Ground”, với mái vòm đường kính 25 mét và giếng trời tròn chiếu ánh sáng tự nhiên thay đổi suốt cả ngày lên các tượng người bằng thép—tạo nên nghệ thuật “site-specific”, nơi kiến trúc, điêu khắc và thiên nhiên cùng “hô hấp”. Trong khi đó, Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại OAR Gyeongju, do kiến trúc sư Yoo Hyun-joon thiết kế gần các lăng mộ thời Silla, mang đến một “cuộc đối thoại giữa truyền thống và hiện đại”, khi các ngôi mộ cổ được tái hiện như những bức tranh toàn cảnh qua lớp kính không khung.

Nhiều người thậm chí chụp ảnh không gian bảo tàng và đăng mạng xã hội trước cả khi xem triển lãm, đơn giản là để tận hưởng không gian. Với sự tham gia của các kiến trúc sư hàng đầu, các bảo tàng đang trở thành những địa danh mới quan trọng của từng khu vực.

Float, 2019, chất liệu hỗn hợp trên toan © Mark Bradford. Cung cấp bởi nghệ sĩ và Bảo tàng Nghệ thuật Amorepacific. Ảnh: Kyoungtae Kim
Float, 2019, chất liệu hỗn hợp trên toan © Mark Bradford. Cung cấp bởi nghệ sĩ và Bảo tàng Nghệ thuật Amorepacific. Ảnh: Kyoungtae Kim

© Bảo tàng Nghệ thuật Seoul (Seoul Museum of Art)
© Bảo tàng Nghệ thuật Seoul (Seoul Museum of Art)

“Ground,” không gian do Tadao Ando và Antony Gormley cùng sáng tạo, ra mắt tại Museum SAN vào tháng 6 năm 2025 © Museum SAN. Ảnh: Jaewon Choi
“Ground,” không gian do Tadao Ando và Antony Gormley cùng sáng tạo, ra mắt tại Museum SAN vào tháng 6 năm 2025 © Museum SAN. Ảnh: Jaewon Choi

Công nghệ và sự đắm chìm: Định dạng triển lãm đang thay đổi

Nội dung và hình thức triển lãm đang tiến hóa nhanh chóng. Các triển lãm nhập vai sử dụng AI và công nghệ tương tác đã trở nên phổ biến. Tác phẩm của Refik Anadol trong triển lãm khai trương của Futura Seoul sử dụng nghệ thuật truyền thông AI dựa trên dữ liệu tự nhiên quy mô lớn, tạo ra những môi trường thị giác biến đổi liên tục, kéo người xem vào không gian cảm giác nơi dữ liệu và thiên nhiên giao thoa.

Cách giám tuyển triển lãm cũng thay đổi. Kiểu trưng bày tuyến tính—treo tranh theo hàng để người xem đi lần lượt—không còn đủ hấp dẫn. Thay vào đó là những “trải nghiệm”, nơi toàn bộ không gian như một cơ thể sống, vượt ra khỏi khái niệm “xem” đơn thuần. “Phòng tĩnh lặng để chiêm nghiệm” tại Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc là một không gian độc lập rộng 439 m², với sàn nghiêng 1 độ và hành lang vào tối, yên tĩnh, nhằm tạo trải nghiệm nhập vai khi chiêm ngưỡng hai tượng Bồ Tát Tư Duy – Quốc bảo. Kể từ khi mở cửa năm 2021, không gian này đã thu hút 3,41 triệu lượt khách, trở thành nơi thiền định và chữa lành.

Từ khán giả đến người tham gia: Gắn kết và sở hữu

Trải nghiệm bảo tàng hiện đại không còn dừng ở quan sát. Các tác phẩm tương tác ứng dụng công nghệ mới mời gọi người xem tham gia trực tiếp. Chẳng hạn, tác phẩm VR “The Guardians of Jade Mountain” của Kwon Hayoun (Giải Nghệ sĩ Hàn Quốc 2024 tại MMCA) cho phép người tham gia đeo kính VR để khám phá không gian ảo; bên ngoài, chuyển động của họ được chuyển hóa thành múa rối bóng, tạo nên trải nghiệm đa tầng. Tương tự, triển lãm teamLab “LIFE” tại Dongdaemun Design Plaza (DDP) minh họa sự chuyển dịch từ xem thụ động sang tham gia nhập vai, với môi trường phản hồi theo từng hành động của khách tham quan.

Cửa hàng bảo tàng cũng trở thành một phần không thể thiếu của trải nghiệm. Mua đồ lưu niệm giờ đây là “nghi thức” khi đi bảo tàng. Những sản phẩm như tượng Bồ Tát Tư Duy thu nhỏ, huy hiệu chim ác là – hổ, hay bùa cá minh thái bằng vải ramie của Leeum đã vượt ra khỏi vai trò quà lưu niệm, trở thành “vật phẩm chữa lành”phương tiện thể hiện bản sắc văn hóa của giới trẻ. Các chương trình như “Museum X Stroll” (tham quan bảo tàng địa phương cùng chuyên gia) hay “MMCA Market”, “MMCA Night” biến bảo tàng thành trung tâm cộng đồng văn hóa. Từ nơi “trưng bày”, bảo tàng Hàn Quốc đang chuyển mình thành không gian nơi công chúng tham gia, sở hữu và trải nghiệm.

Vạch ra tương lai táo bạo

Sau thành công toàn cầu của K-popK-drama, K-artK-museum đang nổi lên như làn sóng xuất khẩu văn hóa tiếp theo của Hàn Quốc. Sự kết hợp độc đáo giữa truyền thống và hiện đại trong kiến trúc, triển lãm thử nghiệm dựa trên công nghệ, và trải nghiệm tham gia sâu của khách tham quan đã tạo nên một mô hình bảo tàng mang bản sắc Hàn Quốc rõ nét. Các bảo tàng đã rời khỏi “vùng ngoại biên” văn hóa để trở thành trung tâm của đời sống thường nhật, mở ra những cách tiếp cận nghệ thuật mới và mở rộng ranh giới của khái niệm bảo tàng. Khi tiếp tục tiến hóa, bảo tàng Hàn Quốc không chỉ chạy theo xu hướng toàn cầu—mà còn góp phần định hình tương lai của văn hóa bảo tàng trên thế giới.

Viện Nghệ thuật Chicago: 130 năm kết nối bền bỉ

Viện Nghệ thuật Chicago: 130 năm kết nối bền bỉ

Hơn một nghìn năm trước, gốm celadon (thanh sứ) ra đời trên mảnh đất Triều Tiên. Ngày nay, vẻ đẹp ấy tỏa sáng tại Viện Nghệ thuật Chicago (The Art Institute of Chicago). Một chiếc bình gốm Hàn Quốc thanh nhã được trưng bày tại bảo tàng không chỉ mang giá trị lịch sử nghệ thuật, mà còn hàm chứa biểu tượng và nhịp thở của mối quan hệ lâu dài giữa hai quốc gia.

Tỏa sáng từ phương xa

Mỗi năm, Viện Nghệ thuật Chicago ở bang Illinois thu hút khoảng 1,3 triệu lượt khách đến chiêm ngưỡng những báu vật trải dài qua nhiều giai đoạn lịch sử Hàn Quốc. Trong số đó, tác phẩm gốm Bình mai (Maebyeong) trang trí mây, hạc và hình ảnh trẻ em kể một câu chuyện đặc biệt, kết nối Hàn Quốc và Hoa Kỳ vượt ra ngoài giá trị nghệ thuật thuần túy.

Chiếc Maebyeong (매병) cao 33,5 cm, được chế tác vào cuối thế kỷ 12, dưới triều Goryeo (918–1392). Những đường cong duyên dáng—thân bình đầy đặn thu dần về miệng nhỏ—tạo ấn tượng mạnh mẽ. Lớp men màu ngọc bích dịu nhẹ thể hiện rõ thẩm mỹ đặc trưng của Goryeo. Dù “celadon” thường dùng để chỉ các loại gốm xanh lục – xanh lam nói chung, nhưng các nghệ nhân Goryeo đặc biệt theo đuổi chất ngọc. Vì thế, celadon ở nhiều quốc gia khác thường ngả xám, còn celadon Goryeo mang sắc xanh lam – xanh lục huyền ảo khó nắm bắt.

Hoa văn khắc trên bình cũng vô cùng độc đáo. Trong một khung cảnh được viền rõ, hai đứa trẻ đuổi theo chim và bướm giữa khu vườn tre. Bên ngoài khung, mây và hạc tạo nên bầu không khí trữ tình. Hai đứa trẻ tượng trưng cho sự sinh sôi, còn tre biểu trưng cho đức tính khiêm nhường—một phẩm chất được giới nho sĩ thời bấy giờ coi trọng.

Kỹ thuật chế tác cũng rất đáng chú ý. Sau khi tạo hình đất sét, nghệ nhân khắc hoa văn rồi lấp các rãnh bằng đất sét có màu khác. Kỹ thuật khảm (sanggam) này vốn xuất phát từ nghề mộc, nhưng các thợ gốm Goryeo đã sáng tạo để áp dụng vào gốm sứ, đạt được vẻ đẹp thẩm mỹ cùng chiều sâu biểu tượng.

Bình mai (Maebyeong) trang trí mây, hạc và trẻ em, triều Goryeo (918–1392), cuối thế kỷ 12
Bình mai (Maebyeong) trang trí mây, hạc và trẻ em, triều Goryeo (918–1392), cuối thế kỷ 12

Mối liên kết bền lâu

Chiếc maebyeong này đại diện cho mối liên hệ sâu sắc giữa Chicago và Hàn Quốc, bắt đầu từ Hội chợ Thế giới Chicago năm 1893 (diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10). Hàn Quốc (khi đó là triều Joseon) đã tham gia hội chợ quy mô lớn này—quy tụ 46 quốc gia và khoảng 27 triệu lượt khách—bằng cách xây dựng gian triển lãm quốc gia. Xem đây là cơ hội giao lưu với thế giới, Hàn Quốc đã dựng một nhà triển lãm mái ngói truyền thống và trưng bày gốm sứ, trang phục và đồ thủ công, giới thiệu văn hóa Hàn Quốc. Một số hiện vật celadon Goryeo được trưng bày khi đó đã dần trở thành một phần trong bộ sưu tập của Viện Nghệ thuật Chicago.

Hơn một thế kỷ sau, những báu vật Hàn Quốc này lại tỏa sáng trong các phòng trưng bày của Viện Nghệ thuật Chicago, mở cửa trở lại vào tháng 1 năm 2025. Không gian mới rộng hơn gấp ba lần so với khu trưng bày nhỏ trước đây trong cánh Á châu. Giờ đây, các phòng trưng bày đủ lớn để bao quát khoảng 2.000 năm lịch sử, từ thời Tam Quốc đến hiện đại. Với tư cách là một không gian triển lãm độc lập, nơi đây cho phép khách tham quan tập trung và cảm nhận sâu sắc hơn—một minh chứng cho vị thế quốc tế của Hàn Quốc đã tiến xa đến mức nào, kể từ gian “Nhà Hàn Quốc” nhỏ bé tại hội chợ 130 năm trước.

Vương miện vàng và trang sức từ mộ Seobongchong, thời Tam Quốc, vương quốc Silla (57 TCN–676 SCN) © Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc.
Vương miện vàng và trang sức từ mộ Seobongchong, thời Tam Quốc, vương quốc Silla (57 TCN–676 SCN) © Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc.

Đai vàng từ mộ Seobongchong, thời Tam Quốc, vương quốc Silla (57 TCN–676 SCN) © Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc.
Đai vàng từ mộ Seobongchong, thời Tam Quốc, vương quốc Silla (57 TCN–676 SCN) © Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc.


 Vương miện vàng được trưng bày tại Phòng 130.

Trước sự quan tâm ngày càng tăng đối với văn hóa Hàn Quốc, Viện Nghệ thuật Chicago, Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc cùng nhiều tổ chức khác đang hợp tác để kể câu chuyện của Hàn Quốc với thế giới. Nhân dịp mở cửa trở lại phòng trưng bày, 24 hiện vật Hàn Quốc—bao gồm vương miện và đai vàng của vương quốc Silla (57 TCN–935 SCN)—được trưng bày đến tháng 9 năm 2026. Từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2026, các tác phẩm thuộc bộ sưu tập do cố Chủ tịch Tập đoàn Samsung Lee Kun-hee hiến tặng cũng sẽ được giới thiệu.

Ngày nay, Chicago mang đến một không gian độc đáo để cảm nhận trọn vẹn lịch sử lâu dài và di sản thẩm mỹ của Hàn Quốc. Chương trình “Essentials Tour” của Viện Nghệ thuật Chicago có phần thuyết minh về Bình mai (Maebyeong) trang trí mây, hạc và trẻ em, đồng thời cho phép du khách lần theo dòng chảy văn hóa Hàn Quốc qua các tác phẩm từ tranh thủy mặc đến nghệ thuật Phật giáo. Dù bạn muốn nuôi dưỡng tâm hồn, hiểu sâu hơn về Hàn Quốc, hay đơn giản là khám phá điều mới mẻ, chuyến thăm Viện Nghệ thuật Chicago hứa hẹn sẽ để lại những ký ức khó quên.

Hoa lan, triều Joseon (1392–1910), Kim Eung-won
Hoa lan, triều Joseon (1392–1910), Kim Eung-won